Ðại
Niệm Xứ
Thiền sư U Silananda
Tỳ kheo Khánh Hỷ dịch Việt
[09]
Paa.li-Việt Ðối
Chiếu
A | B | C | D | E | F | G | H | I
| J | K | L | M | N |
O | P | Q | R | S | T | U | V | W | X | Y | Z
-oOo-
[A]
Abhidhammaa: Vi Diệu Pháp; Thắng Pháp;
những giáo pháp cao thượng của Ðức Phật; tạng thứ ba trong Tam Tạng Paa.li;
triết học và tâm lý học Phật giáo; siêu hình học Phật
giáo, giải thích sự vật theo chân đế.
Abhi~n~naa: Thần thông; thắng trí; năng lực
siêu nhiên.
Abhirati: Người có sự thích thú về một
thứ gì đó, như thích thú và nhiệt thành trong giáo pháp chẳng hạn; dùng
để chỉ người hành thiền với mục đích được hưởng dục lạc ngũ
trần trong các kiếp sau.
Akusala: Bất thiện; ác; tội lỗi.
Aalaara Kaalaama: Một thiền sư nổi
tiếng thời Ðức Phật, một trong hai vị thầy của Bồ tát Sĩ Ðạt Ta.
Anaagaami: A-na-hàm; Bất lai; vị đắc tầng
thánh thứ ba, không còn tái sanh vào cảnh dục giới, hoàn toàn loại trừ sân
hận và tham ái ngũ dục; nhưng còn các phiền não vi tế như: luyến
ái cảnh sắc giới, luyến ái cảnh vô sắc giới, ngã mạn, phóng dật và vô
minh.
Anaagaarika: Người hộ tăng. Trong các xứ
Phật giáo, người hộ tăng giữ tám giới hay mười giới, thường mặc đồ
trắng, sống trong chùa phụ giúp cho tăng, ni.
Aanaapaana-sati: Niệm hơi thở.
Anatta: Vô ngã, phi ngã, không có tự ngã,
không có bản chất, không đáp ứng được sự mong ước của`con người. Một
trong Tam tướng: vô thường, khổ, vô ngã.
Anatta lakkhanaa: Ðặc tính hay tướng vô
ngã. Hiện tượng vượt ngoài khả năng kiểm soát.
Anattaa-nupassanaa-~naana: Tuệ giác thấy
được sự vô ngã. Trực giác được rằng không ai có thể điều
khiển, kiểm soát.
Anicca: Vô thường.
Anicca lakkhanaa: Ðặc tính hay tướng vô
thường. Hiện tượng sinh diệt của các pháp.
Aniccaa-nupassanaa-~naana: Tuệ giác thấy
được sự vô thường. Trực giác được sự diệt tận nhanh chóng của các
pháp.
Anuggahita: Bảo vệ, đặc biệt cho
việc hành thiền.
Anumodanaa: Lời cầu chúc của nhà sư sau khi
nhận lãnh của tín thí (tứ vật dụng).
Apaaya: Cảnh khổ. Có bốn cảnh khổ: súc
sanh, ngạ quỉ, a-tu-la, địa ngục. Chúnh sinh ở những cõi này thiếu
thiện nghiệp nên không có hạnh phúc.
Araha: Hoàn toàn trong sạch thanh tịnh, xứng
đáng được người, trời và phạm thiên kính trọng. Ðây là ân đức đầu
tiên trong mười ân đức của Phật.
Arahat hay Arahanta: A-la-hán hay
Ứng Cúng, bậc thánh thứ tư. Là người hoàn toàn giác ngộ, diệt tận
phiền não, không còn tâm bệnh. Sau khi chết không còn tái sinh nữa.
Ariyasaccani: Chân lý cao thượng. Xem
thêm chữ attari ariyasaccani (Tứ Diệu Ðế)
Aasava: Hoặc lậu; ách nô lệ; trầm luân;
trầm mịch hay dòng nước lũ. Bởi vì chúng trói buộc, nhận chìm và lôi cuốn
chúng sinh trôi nổi trong sông mê bể khổ. Có bốn loại hoặc lậu:
1. Dục lậu (Kaamaasava): Ưa thích
thụ hưởng những khoái cảm giác quan.
2. Hữu lậu (Bhavaasava): Khát vọng được
tồn tại vĩnh viễn.
3. Kiến lậu (Di.t.thaasava): Quan kiến
sai lầm về vũ trụ và nhân sinh. Có sáu mươi hai tà kiến hay quan
kiến sai lầm nhưng có thể chia ra làm hai hai nhóm chính: thường
kiến và đoạn kiến. Thường kiến, cho rằng bản ngã và thế giới
trường tồn vĩnh cửu. Ðoạn kiến chủ trương bản ngã hoàn toàn hủy
diệt sau khi thân hoại mạng chung.
4. Vô minh lậu (Avijjaasava): Không thấy rõ
hay thấy sai lầm. (Xem chữ Avijjaa).
Aataapa: Rất nóng; Thiền có năng lực
đốt cháy phiền não.
Avijjaa: Vô minh. Không thấy chân lý,
nghĩa là không thấy được vô thường, khổ và vô ngã, và thấy sai lầm: cho
rằng thế gian là trường tồn, an vui và có tự ngã.
Aayatana: Các xứ, gồm nội xứ và ngoại xứ.
Nội xứ gồm: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Ngoại xứ gồm: Hình sắc, âm
thanh, mùi, vị, vật xúc chạm và đối tượng của tâm.
[B]
Bhaavanaa: Tham thiền hay thiền, đốt
cháy phiền não, gồm hai loại: thiền vắng lặng và thiền minh sát.
(Xem chữ Samatha và Vipassanaa).
Bhikkhu: Tỳ khưu, tỳ kheo. Khất sĩ. Nam tu
sĩ Phật giáo, giữ 227 giới, cạo đầu, mặc y vàng sống nhờ vào thực phẩm
khất thực. Còn có nghĩa là những người cố gắng tu trì giới, định, huệ
để giải thoát.
Bodhi: Giác ngộ, trí tuệ phát sinh vào
lúc đạo tâm hiện khởi.
Bodhisatta: Bồ tát, người có hạnh
nguyện trở thành một vị Phật toàn giác để có đủ khả năng cứu độ
chúng sinh. Còn để chỉ Ðức Phật khi chưa giác ngộ.
Bojjha"nga: Yếu tố giác ngộ. Ðặc
tính của tâm dẫn đến giác ngộ. Cũng là tuệ giác thấy rõ Tứ
Diệu Ðế. (xem chữ sa"mbojja"nga)
Brahmaa: Phạm thiên. Tên của vị trời cao nhất.
Tên của một cõi trời vô sắc, chỉ có tâm mà không có thân.
Brahmacariya: Phạm hạnh. Ðời sống thánh
thiện, một đời sống cống hiến cho sự phát triển tinh thần. Ðời
sống độc thân thánh thiện.
Brahma vihaara: Tứ vô lượng tâm: Từ, Bi,
Hỉ, Xả.
Buddha: Phật. Ðấng giác ngộ. Danh từ được
dùng để chỉ Thái tử Siddhattha Gotama, con của vua Suddhodana và hoàng hậu
Maya. Vào năm hai mươi chín tuổi, Thái tử rời bỏ cung điện, xuất gia tu
hành. Sau khi theo học với một số thầy và thực hành khổ hạnh trong sáu
năm không hiệu quả, Thái tử tự tìm ra Trung Ðạo và giác ngộ do nỗ
lực của chính mình. Trong bài pháp đầu tiên, Dhammacakka-pavatthana Sutta (Kinh
Chuyển Pháp Luân), Ðức Phật đã dạy Bát Chánh đạo và Tứ Diệu
Ðế.
Buddhaanussati: Niệm Ân Ðức Phật.
[C]
Caaga: Bố thí. dứt bỏ. Mong muốn loại trừ
phiền não, cũng như có sự bố thí vật chất rộng rãi.
Cattaari ariyasaccaani: Tứ Thánh Ðế hay
Tứ Diệu Ðế: (Bốn chân lý về sự khổ):
1. Chân lý về sự khổ (Dukkha): Sinh
là khổ, già là khổ, đau là khổ, chết là khổ, xa lìa cái mình yêu
thương là khổ, gần cái mình ghét là khổ, muốn không được là khổ...(sầu,
bi, khổ, ưu, não là khổ)... ngũ uẩn thủ là khổ.
2. Chân lý về nguyên nhân của sự khổ
(samudaya): Dục ái (kaamatanhaa), hữu ái (bhavatanhaa) và vô
hữu ái (vibhavatanhaa).
3. Chân lý về sự diệt khổ (Nirodha):
Hoàn toàn chấm dứt, là từ bỏ ái dục, tháo gỡ và giải thoát.
4. Chân lý về con đường dẫn đến nơi
thoát khổ (magga): Ðó là Bát Chánh Ðạo.
Chanda: Dục: ý muốn làm
Citta: Tâm
Cittaa: Tên một vị tỳ khưu ni vào thời
Ðức Phật. Tỳ khưu ni Cittaa đã chế ngự được sự đau yếu
thể chất trầm trọng và sự yếu đuối, nỗ lực tinh tấn trở
thành một vị A-la-hán.
Citta viveka: Tâm ẩn cư. Tâm ẩn cư khỏi
mọi phiền não làm cản trở sự phát triển minh sát. Tương đương
với liên tục chánh niệm, không để cho phiền não chế ngự.
[D]
Daana: Bố thí. Một trong mười Ba-la-mật (xem
Paaramii). Ðây là pháp thực hành đầu tiên để loại trừ tâm tham
ái.
Dasa kasina: Mười đề mục hành
thiền: Tứ đại (đất, nước, gió, lửa), bốn màu sắc (xanh, vàng, đỏ,
trắng), không gian, ánh sáng. Những đề mục hành thiền này giúp
chế ngự tham ái.
Deva: (Nguyên nghĩa: Chúng sanh có ánh
sáng). Các vị trời, có cơ thể vi tế nên mắt người không nhìn thấy
được. Ðây là những chúng sanh sống trên các cõi trời, được an vui hạnh
phúc hơn cõi người, nhưng khi hết tuổi thọ vẫn còn phải tái sanh trở
lại chịu khổ trong sanh, già, đau, chết, tức là vẫn còn luân lưu trong
vòng luân hồi.
Devadatta: Ðề-bà-đạt-đa. Một vị sư
vào thời Ðức Phật, âm mưu chia rẽ giáo hội, và về sau nhiều lần
muốn giết hại Ðức Phật.
Dhamma: Pháp, những lời dạy của Ðức Phật;
bản chất của sự vật; luật thiên nhiên; chân lý.
Dhamma vicaya: Trạch pháp giác chi, một tâm
sở thấy rõ bản chất các pháp, hay thấy rõ Niết bàn. Chi thứ hai trong
Thất Giác Chi.
Dhuta"nga: Hạnh đầu đà, Thầy Tỳ khưu
thực hành hạnh này để loại trừ phiền não. Người hành hạnh đầu đà
giữ một số qui điều chặt chẽ, tri túc, từ bỏ, hạn chế các nhu cầu,
chẳng hạn giữ hạnh: Chỉ dùng một bộ y gồm: y vai trái, y nội, y hai lớp; ăn
ngày một bữa, sống trong rừng ....
Dosa: Sân hận, giận dữ, nóng giận. Tâm từ
chối các đối tượng không vừa lòng; chẳng hạn, trong lúc hành thiền, tâm
khó chịu khi cơ thể bị đau nhức. Sân hận là một trong ba phiền não
chính khiến tâm chúng sinh mê mờ. Hai phiền não kia là tham lam và si
mê.
Dukkha: Khổ, bất toại nguyện, đau khổ.
Ðặc tính thứ hai của các pháp có điều kiện (pháp hữu vi). Ðây là
kết quả của vô thường và tham ái. Khổ là chân lý đầu tiên trong Tứ
Diệu Ðế, có ba loại khổ chính: khổ khổ, hành khổ và hoại khổ.
Dukkha lakkhanaa: Ðặc tính hay tướng của
khổ nhờ đó mà thấy được khổ. Bị áp bức, bị đè nén bởi sự vô thường.
Dukkha-nupassanaa-~naana: Tuệ giác thấy
được sự khổ. Trực giác được rằng không thể dựa vào ai hay cái gì cả,
tất cả mọi đối tượng đều đáng sợ, đáng nhờm gớm, không nơi nào
có thể nương nhờ hay ỷ lại vào vì tất cả đều bị hủy diệt,
bị tan biến mau chóng.
[H]
Hiiri: Hỗ thẹn tội lỗi, cảm giác
hỗ thẹn về những gì cần phải hỗ thẹn. Cảm giác hỗ thẹn khi
làm hay nghĩ đến điều xấu xa, tội lỗi.
[I]
Issaa: Ganh tị. Không muốn nhìn thấy người
khác thành công hay hạnh phúc.
[J]
Jetavana: Chùa Kỳ Viên. Một ngôi chùa gần
thành Saavatthii (Xá-vệ) ở miền bắc Ấn Ðộ, nơi đức Phật
thường dạy đạo.
Jhaana: Nhập định hay tầng thiền. Ðặc
tính của tâm có khả năng dính chặt trên đối tượng và quan sát đối
tượng, đốt cháy phiền não.
Jhaana sammaa di.t.thi: Chánh kiến trong
các tầng thiền. Ðây là chánh kiến khởi sinh trong tám tầng thiền
định, không phải trong thiền minh sát.
[K]
Kaccaayana: Ca-chiên-diên. Một trong những
người học trò lớn của Ðức Phật, một vị A-la-hán, có khả năng diễn
giải những bài pháp ngắn gọn của Ðức Phật. Nhiều bài Pháp của Ðức
Phật chỉ vỏn vẹn có vài chữ.
Kalyaa.na mitta: Người bạn đức hạnh, người
bạn tinh thần, thiện hữu.
Kaamacchanda: Dục lạc. Chướng ngại đầu
tiên trong năm chướng ngại.
Kamma: Nghiệp. Hành động, lời nói hay
tư tưởng cố ý. Nghiệp tích lũy trong quá khứ hay trong hiện tại
sẽ trả quả trong hiện tại hay trong tương lai tùy theo tính chất của
nghiệp.
Kammassakataa sammaa-dhi.t.thi: Chánh kiến
thấy rõ chỉ có nghiệp mới thực sự là gia tài của chúng ta.
Kamma.t.thaana: Tham thiền.
Karu.naa: Lòng Bi mẫn. Tâm se lại trước sự
đau khổ của chúng sinh khác. Lòng mong muốn loại bỏ những đau khổ của chúng
sinh khác.
Kasina: Ðề mục hành thiền Kasina
(Biến xứ). Có mười đề mục hành thiền Kasina: Ðất, nước, lửa,
gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, ánh sáng, "khoảng không" có giới hạn.
Kaaya: Thân thể, hình dáng.
Kaaya viveka: Thân ẩn cư, điều kiện
đầu tiên giúp cho việc hành thiền tốt đẹp. Thái độ không dính mắc
vào lục trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp. Cũng có nghĩa là thân xa
lánh các nơi ồn ào náo nhiệt. Hằng ngày đến nơi yên tịnh vắng lặng
để hành thiền.
Khandaa: Uẩn, nhóm, tập hợp. Thân người là
tập hợp của năm uẩn: Sắc (ruupa), thọ (vedanaa), tưởng (sa~n~naa),
hành (sa"nkhaara), thức (vi~n~naana).
Khema: Tịnh an. An ninh, an toàn. Một trong những
đặc tính của Niết bàn, trái hẳn với sự an toàn có điều kiện
của thế gian.
Kilesaa: Phiền não, những yếu tố làm
cho tâm ô nhiễm. Phiền não có thể khởi dậy ngay cả khi các điều
kiện của chúng đã được loại trừ.
Kilesaa parinibbaana: Hoàn toàn loại trừ
phiền não.
Kodha: Sân hận, nóng nảy, "tâm gai
góc". Sân hận và những tâm sở đi kèm với sân hận.
Kusala: Thiện, tốt.
Kusiita: Người lười biếng.
[L]
Lakkha.naa: Ðặc tính.
Lobha: Tham. Tâm nắm giữ vật ưa thích.
Lokiya: Thế tục.
Lokuttara: Siêu thế. Ðây là từ để
chỉ bốn đạo, bốn quả và Niết bàn.
[M]
Macchariya: Bủn xỉn. Không muốn thấy người
khác hạnh phúc như mình.
Magga: Ðạo. Danh từ để chỉ giây phút
giác ngộ, khi mọi phiền não đều được loại trừ. Tâm đầu tiên
của Niết bàn.
Mahaakassapa: Ma-ha (Ðại) Ca-diếp. Một
trong những vị học trò đầu tiên của Ðức Phật. Ngài là vị tỳ khưu
đệ nhất đầu đà, chủ tọa kỳ kết tập Tam Tạng lần đầu tiên sau
khi Ðức Phật niết bàn ba tháng.
Mahaamoggallaana: Ðại Mộc Kiền Liên. Một
trong hai Ðại Ðệ Tử của Ðức Phật, có thần thông bậc nhất.
Mahaapajaapati Gotamii: Người dì đồng thời
cũng là mẹ kế của Thái Tử Siddhatta. Vị nữ tỳ khưu đầu tiên, sáng lập
Tỳ khưu ni đoàn. Vị thánh đệ nhất về sự chứng đắc.
Mahaayaana: Ðại thừa. Sau khi hoàng đế
Asoka cố gắng hợp nhất Tăng Chúng vào thế kỷ thứ ba trước Công
nguyên, một số tông phái tự động phát triển các học phái của riêng
mình. Một số quan điểm của Ðại thừa khác hẳn giáo lý thời nguyên
thủy, chẳng hạn như quan điểm về Bodhisattva (Bồ tát): Bồ tát
từ khước Niết bàn để có thể tiếp tục sống trong Tam Giới cứu
độ chúng sinh. Trong khi đó Phật giáo Nguyên thủy dựa vào lời dạy cuối cùng
của Ðức Phật trước khi nhập diệt, khuyến khích mọi người hãy
"tự nổ lực để cứu độ chính mình" (Xem kinh Mahaaparinibbaana
Sutta, Ðại Bát Niết Bàn, Trường Bộ). Ðại Thừa thêm vào nhiều
kinh điển mà thời Phật Giáo Nguyên Thủy không có. Phật giáo Ðại thừa
được truyền bá vào Trung Á do các thương buôn và các nhà sư thời vua
Kushan ở Ấn Ðộ trong suốt hai thế kỷ đầu tiên sau Công nguyên và
dần dần lan tràn sang Tây tạng, Trung hoa, Siberia, Triều tiên, Nhật bản và
Việt nam. Từ thế kỷ thứ tám đến thế kỷ thứ mười ba
được truyền sang Cam Bốt, Java, Sumatra và Mã lai.
Maana: Mạn. Có ba loại mạn: Cho mình hơn
người, cho mình bằng người, cho mình thua người.
Maara: Ma vương. Theo nguyên ngữ Paa.li,
Maara được rút ra từ một từ gốc có nghĩa là "sự chết".
Nhân cách hóa sức mạnh của si mê và ái dục. Si mê và ái dục hủy hoại đức
hạnh và mạng sống chúng sinh, là chủ tể của mọi cảnh giới có
điều kiện.
Maatikamaataa: Một tín nữ vào thời Ðức
Phật, hỗ trợ chư tăng hành thiền. Trong lúc lo nấu nướng cho chư tăng
bà luôn luôn chú tâm chánh niệm vào việc làm, chẳng bao lâu sau bà
đắc quả.
Mettaa: Từ ái, tâm Từ. Mong cầu tất cả
chúng sinh có đầy đủ sức khỏe, thân tâm an lạc.
Middha: Buồn ngủ. Tâm trở nên tiêu cực,
thụ động khi buồn ngủ có mặt.
Moha: Si mê. Tâm không đủ khả năng nhận
biết những điều xảy ra, đặc biệt là các cảm giác vô ký. Một
trong ba Phiền não chính (tham, sân, si) làm tâm chúng sinh mê mờ, đen tối.
Muditaa: Hỉ. Vui mừng trước sự thành công,
hạnh phúc của kẽ khác.
[N]
Naama: Danh hay tâm. Tâm, theo nguyên nghĩa,
là cái hướng đến đối tượng hay cái làm cho những cái khác hướng
đế chúng. Ðây là một từ để chỉ mọi hiện tượng của tâm.
Namuci: Một tên khác của Maara.
Nekkhamma sukha: Hạnh phúc của sự khước từ,
hạnh phúc của sự xuất gia. Hạnh phúc, an lạc và thoải mái đến từ sự xa
lìa dục lạc ngũ trần, xa lìa những phiền não do dục lạc thú ngũ trần
đem lại.
Nibbaana: Niết Bàn. Không điều
kiện, hoàn toàn không có phiền não vì không phải là thân hay tâm.
Nikanti ta.nhaa: Tham luyến vào những lạc
thú do thiền đem lại. Ðây là một loại phiền não rất vi tế, mong
manh như mạng nhện nhưng làm cản trở bánh xe trí tuệ.
Nimita: "Tướng" hay hình ảnh trong
tâm xuất hiện lúc hành thiền, cho thấy khả năng định tâm cao.
Nirodha: Diệt, chấm dứt.
Nirodha samaapatti: Diệt Thọ Tưởng
Ðịnh. Ðạt được sự diệt. Ðây là loại định tâm mà chỉ có vị
A-la-hán hay A-na-hàm mới có thể vào được.
Niivarana: Chướng ngại, Triền cái. Có
năm chướng ngại trên đường giải thoát, giác ngộ: Tham ái, sân hận, giao
động hối hận, dã dượi buồn ngủ và hoài nghi.
[O]
Ottappa: Ghê sợ tội lỗi. Không muốn làm
điều ác vì sợ hậu quả tai hại của nó; đây là thái độ của người
trí.
[P]
Pabbajita: Xuất gia hay từ bỏ. Người từ bỏ
đờ sống thế tục để diệt trừ phiền não.
Pacceka Buddha: Ðộc Giác Phật. Tự mình giác
ngộ, nhưng sau khi giác ngộ không thể giảng dạy cho người khác.
Paccakkha-~naa.na: Tri giác tuệ. Tri giác
do kinh nghiệm trực tiếp. Tuệ giác trực tiếp. Ðồng nghĩa với
chữ Vipassanaa.
Paa.li: Ngôn ngữ dùng để ghi kinh điển
Phật giáo, gần với tiếng Magadhii (Ma-kiệt-đà). Ðây là ngôn
ngữ mà Ðức Phật và các đệ tử của Ngài dùng để giảng dạy và nói
chuyện hằng ngày.
Paamojja, paamujja: Khinh hỉ hay thiểu hỉ.
Loại hỉ đầu tiên trong năm loại hỉ.
Pancendriya: Ngũ căn. Một từ về
thiền để chỉ năm tâm sở: Tín, Tấn, Niệm, Ðịnh, Huệ.
Pa~n~naa: Trí tuệ. Trí tuệ trực giác
về chân lý tối thượng.
Paramattha dhamma: Thực tại tuyệt đối.
Chân đế. Ðối tượng được nhận biết một cách trực tiếp không
qua khái niệm. Có ba loại chân đế: hiện tượng vật chất, hiện
tượng tâm và Niết bàn.
Paramatha sacca: Chân lý tuyệt đối.
Cùng nghĩa với paramattha dhamma. (phản nghĩa với sammuti sacca).
Paaramii: Ba-la-mật. Hoàn hảo. Sức mạnh thanh
tịnh nội tâm được phát triển và tích lũy qua nhiều đời. Có mười
ba-la-mật: daana (bố thí), siila (trì giới), nekkhama (xuất gia
hay khước từ), pa~n~naa (trí tuệ), viiriya (tinh tấn), khanti (nhẩn
nhục), sacca (chân thật), adhi.t.thaana (quyết định), mettaa
(tâm từ) và upekkhaa (tâm xả).
Parinibbaana: Bát Niết Bàn, Vô Dư
Niết Bàn. Một vị Phật hay A-la-hán khi còn sống thì có Hữu Dư Niết
Bàn, lúc rời bỏ thân thể này thì gọi là Vô Dư Niết Bàn.
Parisuddhi sukha: Tịnh lạc. Hạnh phúc an lạc
không trộn lẫn với phiền não. Niết bàn.
Passaddhi : Thư thái. Chi thứ năm trong thất
giác chi.
Paticca samuppaada: Thập nhị nhân duyên.
Paatimokkha: Giới bổn, Ba-la-đề-mộc-xoa.
Giới luật được ghi trong tạng Luật (227 giới cho Tỳ khưu và 311 giới cho Tỳ
khưu ni), tạng đầu tiên trong Tam Tạng Paa.li. Chư Tăng Ni mỗi tháng
phải tụng giới bổn hai lần vào ngày mười bốn và ba mươi mỗi tháng
Peta: Ngạ quỉ. Quỉ đói. Loại quỉ không có
hạnh phúc.
Phala: Quả. Tâm xảy ra tiếp theo đạo
tâm, tiếp tục thấy Niết Bàn, và trong khi đó thì phiền não bị
loại trừ.
Phassa: Xúc, một tâm sở phát sanh khi tâm
tiếp xúc với đối tượng.
Pin.dapaata: Trì bình hay khất thực: chư
tăng ôm bát nhận cơm cúng dường của bá tánh.
Piiti: Hỉ. Nhờ tâm trong sáng thanh tịnh nên
thân và tâm có cảm giác nhẹ nhàng thích thú.
Puthujjana: Thế tục, phàm nhân.
[R]
Raaga: Dục ái. Tham ái.
Ruupa: Sắc, vật chất.
[S]
Saddhaa: Ðức tin, Tín.
Sahagata: Ði kèm với. Phối hợp với.
Sakadaagaami: Tư-Ðà-Hàm. Nhất Lai. Tham ái
và sân hận của vị có quả thánh thứ hai đã yếu kém nên chỉ còn tái
sinh một lần.
Samatha bhaavanaa: Thiền vắng lặng.
Thiền An Chỉ. Hành thiền theo bốn mươi đề mục nhằm mục đích
đạt được tâm vắng lặng. Bình an do chế ngự được một số phiền não
và chướng ngại.
Samaadhi: Ðịnh. Trạng thái của tâm trụ
trên một đối tượng duy nhất. Có ba loại Ðịnh: chuẩn bị (Parikamma), cận
định (upacaara) và định (jhaana hay appanaa). Chi thứ sáu
trong Thất Giác Chi.
Saama.nera: Sa di.
Saama.nerii: Sa di ni.
Samatha jhaana: Nhập Ðịnh. Tâm hoàn toàn an
trú trong một đề mục duy nhất. ở trong tình trạng hoàn toàn an tịnh, tĩnh
lặng, tâm thấm nhập vào đề mục.
Sa"mbojjha"nga: Thất giác chi. Bảy
yếu tố giác ngộ. Bảy nhân sinh quả bồ đề gồm: Chánh niệm (sati),
Trạch pháp (dhamma vicaya), tinh tấn (viiriya), hỉ (piiti), Thư
thái (passaddhi), định (samaadhi) và xả (upekkhaa).
Sammaa-di.t.thi: Chánh kiến. Kiến thức
chân chánh.
Sammaa-kammanta: Chánh nghiệp. Hành động
chân chánh: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh.
Sammaa-sambuddha: Tam-miệu tam-bồ-đề.
Chánh đẳng chánh giác, tự mình ngộ lấy không thầy chỉ dạy.
Sammasana-~naa.na: Tư duy trí. Tuệ thấy
rõ: vô thường, khổ não, vô ngã. Ðạt tuệ này, thiền sinh thấy rõ sự
tan rã, sự biến mất một cách nhanh chóng của đối tượng. Với sự thấy rõ
này, thiền sinh kinh nghiệm trực tiếp rằng tất cả mọi vật
đều vô thường, bất toại nguyện và không có tự ngã. Ðược gọi
là "liễu tri" vì thiền sinh tự mình thấy rõ chân lý căn bản.
Sammaa vaacaa: Chánh ngữ. Lời nói chân
chánh: lời nói thành thật, lời nói đem lại sự đoàn kết, lời nói dịu
dàng, lời nói hữu ích.
Sa"mpajja~n~na: Giác tỉnh. Biết mình.
Hiểu biết sáng suốt.
Samsaara: Vòng luân hồi. Vòng tham ái và
đau khổ do không hiểu biết chân lý
Samudaya: Khởi sinh.
Samudaya dhamma: Pháp duyên sinh.
Samutti sacca: Tục đế. Sự thật thế
tình. Ngược với chân đế: sự thật tuyệt đối. Tục đế dính mắc
quan niệm, vào danh từ như cho rằng có tôi, anh, chị, ghế, bàn, sông,
núi ... Chân đế nhìn đúng bản chất của sự vật nên không có tôi, anh,
chị, ghế, bàn, sông, núi ... mà chỉ có vật chất và tinh thần thuần túy
hay danh và sắc hoặc thân và tâm
Sangha: Tăng già. Chúng. Cộng đồng tu sĩ
Phật giáo gồm những nhà sư ăn mặc theo Phật, tu trì Giới (227 giới), Ðịnh,
Huệ.
Sa"nkhaara: Hành. Trong thập nhị nhân
duyên thì hành có nghĩa là tác ý. Trong ngũ uẩn thì hành chỉ cho năm
mươi tâm sở. Hành còn có nghĩa là danh sắc hay các pháp có điều
kiện, chẳng hạn như câu: Các pháp hành đều vô thường, hãy tinh tấn,
chớ phóng dật. Chữ hành ở đây có nghĩa là các pháp có điều kiện
hay danh sắc
Sa"nkhaara paramattha dhamma: Chân lý
tuyệt đối về các pháp có điều kiện. Hiện tượng danh sắc
hay thân tâm được trực tiếp thấy rõ, không xuyên qua tư duy hay khái
niệm.
Sa"nkhaarupekkhaa~naa.na: Tuệ xả. Có
tâm xả thọ đối với tất cả mọi pháp (duyên sinh). Một trong những
tuệ giác cao nhất trong thiền minh sát. Một trạng thái quân bình nội
tâm tinh tế không bị ảnh hưởng bởi các cảm thọ vui khổ.
Sa~n~naa: Tưởng. Ttri giác, ý niệm,
quan kiến, trí nhớ.
Santi sukha: Tịnh lạc. Hạnh phúc tịch tịnh.
Một từ để chỉ kinh nghiệm Niết bàn.
Saariputta: Xá-lợi-phất. Một trong hai đại
đệ tử của Phật, có trí tuệ bậc nhất.
Sati: Chánh niệm. Ghi nhớ đúng đắn. Chi
thứ nhất trong thất giác chi.
Satipa.t.thaana: Tứ niệm xứ. Bốn căn bản
của chánh niệm: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm
pháp.
Satipa.t.thaana Sutta: Kinh Tứ niệm xứ.
Một bài kinh trong đó Ðức Phật chỉ dạy cách thực hành chánh niệm.
Sayadaw: Ðại sư. Một danh từ của người
Miến Ðiện để tôn xưng một thiền sư hay một vị trụ trì.
Siila: Giới. Ðức hạnh.
Siilashin: Tu nữ Miến Ðiện, giữ tám
hay mười giới, Mặc y phục vàng, hồng hay nâu.
Sona Therii: Tên một vị tỳ khưu ni. Bị con
cái ruồng bỏ, bà Sona vào chùa tu và đắc quả.
Sotaapanna: Tu-đà-huờn, Nhập lưu. Ðắc quả
thánh thứ nhất, kinh nghiệm Niết Bàn lần đầu tiên, dứt trừ ba dây
trói buộc: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ. Vì các phiền não đã
yếu nên vị Tu-đà-huờn không bị tái sinh vào bốn cõi dữ. Còn gọi là
Thất Lai vì vị Tu-đà-huờn chỉ còn tái sinh tối đa bốn kiếp.
Subhadda: Một tu sĩ ngoại đạo trở thành
người học trò cuối cùng của Ðức Phật. Subhadda trở thành một vị
tỳ kheo Phật giáo trước khi Phật nhập Niết Bàn độ vài giờ đồng hồ.
Sukha: Lạc, hoan hỉ, cảm giác vui vẻ. Chi
thứ tư trong tầng thiền định thứ nhất.
Sumedha: tên một vị ẩn sĩ giữ hạnh bồ tát
để trở thành một vị Phật toàn giác. Ðây là vị bồ tát tiền thân
Phật Thích Ca.
Sutta: Kinh. Ghi lại những lời giảng của
Ðức Phật. Tạng thứ hai trong Tam Tạng Paa.li.
[T]
Ta.nhaa: Ái dục, tham ái, lòng tham muốn dẫn
đến tái sinh.
Theravaada: Nguyên ngữ là lời dạy của những
vị trưởng lão. Trưởng lão bộ, Bảo thủ bộ, Thượng tọa bộ hay Phật giáo
Nguyên thủy. Một tông phái duy nhất trong số mười tám tông phái còn lại sau
khi Phật Niết bàn. Các vị trưởng lão tụng đọc lại tất cả những lời
dạy của Ðức Phật vào kỳ kết tập Tam Tạng lần thứ nhất, ba tháng sau khi
Phật Niết bàn. Những lời dạy này được nhóm trưởng lão bảo thủ lưu
giữ cho đến ngày nay. Phật Giáo Nguyên Thủy được duy trì và phổ
biến tại các xứ Miến Ðiện, Thái Lan, Kampuchia, Lào, và Tích Lan.
Tatra majjhattataa: Quân bình nội tâm. Một
khía cạnh của tâm xả.
Taavatimsa: Cõi trời Ðao Lợi còn gọi là
cõi trời Tam thập tam thiên: cõi trời của ba mươi ba vị trời. Ðây là cõi
trời mà Ðức Phật thuyết vi diệu pháp cho Phật mẫu nghe. Hoàng hậu Maya
sau khi chết tái sinh vào cõi trời này.
Thera: Trưởng lão tăng. Thường được dùng
để trước tên những vị Tăng cao hạ để bày tỏ lòng kính trọng.
Therii: Trưởng lão ni. Thường được dùng
để trước tên những vị Ni cao hạ để bày tỏ lòng kính trọng.
Thina: Dã dượi.
Thina middha: Dã dượi buồn ngủ. Dã dượi
và buồn ngủ thường đi đôi với nhau. Dã dượi là tâm co rút lại như lông
gà đặt gần lửa thì bị teo lại. Buồn ngủ là một tâm thụ động đi theo dã
dượi. Thiina middha là chướng ngại thứ tư trong năm chướng ngại, là
đạo binh thứ năm trong mười đạo binh ma.
Tipi.taka: Tam tạng kinh. Gồm ba tạng: Luật (Vinaya)
giới điều, (những qui luật mà tăng Ni phải hành trì), Kinh (Sutta)
và Vi diệu pháp (Abhidhamma)
Tisara.na: Tam qui. Qui y Phật, qui y Pháp, qui y
Tăng.
[U]
Uddhacca kukkucca: Trạo hối. Bất an giao động và
hối hận. Chướng ngại thứ tư trong năm chướng ngại
Uddhata: Bất an, nguyên nghĩa là giao động.
Udaka Raamaputta: Một thiền sư nổi
tiếng thời Ðức Phật, một trong hai vị thầy của Bồ tát Sĩ Ðạt Ta.
Upaadaana: Chấp thủ. Tâm tham ái dính chặt
vào đối tượng không buông rời
Upasama: Bình an, tĩnh lặng
Upekkhaa: Xả. Quân bình năng lực. Ðặc tính
của tâm thăng bằng không nghiêng về một thái cực nào. Chi thứ bảy trong
thất giác chi.
[V]
Vaya dhamma: Pháp diệt.
Vedanaa: Thọ hay cảm thọ.
Vicaara: Tứ hay Sát. Một khía cạnh của sự
định tâm bao gồm tâm "chà xát" trên đối tượng. Yếu tố thứ hai
trong tầng thiền định đầu tiên.
Vicikicchaa: Hoài nghi. Tâm mệt mỏi vì
phân vân không quyết và ức đoán. Chướng ngại thứ năm trong năm chướng
ngại. Ðạo binh ma thứ bảy trong mười đạo binh ma.
Vikkhambhana viveka: Tị phiền não ẩn cư.
Trạng thái phiền não bị yếu kém trong một thời gian. Ðây là kết
quả của thân ẩn cư và tâm ẩn cư.
Vinaya: Luật (xem Paa.timokkha)
Vi~n~naa.na: Thức.
Vipaaka: Quả của nghiệp. Những điều
kiện sinh khởi do hành động quá khứ
Vipassanaa: Thiền minh sát. Nguyên nghĩa:
'thấy bằng nhiều cách'. Năng lực quán sát đối tượng thân tâm qua ánh
sáng của vô thường, khổ não và vô ngã.
Vipassanaa jhaana: 1) Tiếp tục chú tâm
vào bản chất thật sự (chân đế) của sự vật không xuyên qua sự suy nghĩ
hay khái niệm. 2) Trụ tâm vào các đề mục thay đổi, nhưng vẫn chú
tâm khắn khít vào đặc tính vô thường, khổ và vô ngã.
Vipassanaa kilesa: Minh sát phiền não.
Ðây là những loại phiền não khởi sinh lúc thiền sinh đạt đến
tuệ giác thấy rõ sự sinh diệt mau chóng của các hiện tượng. Hỉ
lạc phát sinh vào lúc này. Minh sát phiền não bao gồm sự nắm giữ những
kinh nghiệm hỉ lạc do việc hành thiền đem lại mà không biết
rằng mình đang dính mắc vào chúng.
Viiraana"m bhaavo: Dũng cảm. Ðặc tính
của một anh hùng. Ðây là từ để chỉ sự dũng cảm tinh tấn trong việc
hành thiền.
Virati: Sự thu thúc, sự kiêng cử.
Viriya: Tinh tấn. Năng lực hay sự tinh tấn
liên tục hướng tâm đến đối tượng. Ðược rút ra từ chữ anh hùng. Chi
thứ ba trong thất giác chi.
Visuddhi Magga: Thanh Tịnh Ðạo. Một cuốn
sách viết về Thiền do Ngài Buddhaghosa soạn vào thế kỷ thứ
tư sau Công nguyên.
Vitakka: Tầm: Một khía cạnh của định tâm,
tâm hướng về đối tượng, dính trên đối tượng và đặt trên đối
tượng. Chi thứ nhất của tầng thiền định đầu tiên.
Viveka: ẩn cư. Một từ chỉ trạng thái an
tịnh tĩnh lặng, xuắt hiện khi tâm được an trú và bảo vệ không bị
phiên não quấy nhiễu.
Vivekaja piiti sukha: ẩn cư hỉ lạc. Hỉ lạc,
hạnh phúc do sự ẩn cư đem lại. Một từ để chỉ hai chi thiền thứ ba
và thứ tư của tầng thiền định đầu tiên, được xem như phối hợp chung
với nhau.
Vyaapaada: Sân hận. Chướng ngại thứ hai
trong năm chướng ngại.
[Y]
Yogi: Thiền sinh.
-oOo-
Ghi chú | Mục Lục |
Source: Như Lai Thiền Viện -
Tathagata Meditation Center, San Jose, California, U.S.A. |