|
 |
Ba Mươi Ngày
Thiền Quán
Kim Chỉ Nam Thiền Vipassana
Nguyên tác: The Experience of
Insight,
Joseph Goldstein, 1976
Dịch giả: Nguyễn Duy Nhiên,
1992 |
[01]
Buổi tối thứ nhất
LỜI DẠY MỞ ÐẦU
Mở đầu cho mỗi kỳ tu học là truyền
thống quy y Tam bảo cho mỗi thiền sinh. Quy y có nghĩa là trở về nương
tựa. Tam bảo có nghĩa là Phật, Pháp và Tăng.
Quy y Phật có nghĩa là nhìn nhận rằng trong chúng ta ai cũng có hạt
giống giải thoát, tỉnh thức. Nó cũng có nghĩa là trở về nương tựa nơi
những đức tính cao thượng của đức Phật như vô
úy, trí tuệ, từ bi. Trở về nương tựa Pháp có nghĩa là sống trong
giáo pháp của đức Phật, chân lý của mọi vật;
tức là nhìn nhận sự trở về với sự thật,
để giáo pháp của đức Phật được biểu hiện nơi
tâm mình. Trở về nương tựa Tăng có
nghĩa là dựa vào sự nuôi dưỡng về tinh thần lẫn vật chất của những
người có cùng một chí hướng, cùng giúp đở,
hướng dẫn nhau trên con đường tỉnh
thức và giải thoát.
Một nền tảng tối cần thiết cho việc tu tập thiền quán là giữ gìn một số
giới luật. Giới luật là một phương thức để
duy trì sự trong sạch căn bản cho thân
thể, lời nói và ý nghĩ. Năm giới luật
mà hành giả phải cố gắng giữ là: không sát hại, có nghĩa là không
được giết hại bất cứ một sinh mạng nào,
ngay cả con muỗi hay con kiến; không trộm cắp, có nghĩa là không
được lấy những gì không phải là của
mình; không tà dâm, ở đây trong khóa tu này
thì nó có nghĩa là giữ cho mình được trong
sạch; không nói láo hay nói những lời mà mình không biết chắc,
không được nói những lời ác độc, gây chia rẽ;
không uống rượu và sử dụng các chất ma túy. Năm
giới luật này sẽ giúp cho ta có được
một nền móng vững chắc để phát triển định lực, và từ
đó sẽ phát sinh trí tuệ.
Chúng ta có cơ hội ngồi chung với nhau hôm nay,
để quán chiếu lại chính mình trong một
khung cảnh yên lặng và tĩnh mịch này, là một
điều vô cùng quý báu. Thật là hiếm mà có một dịp
để bỏ ra trọn một tháng để hành thiền,
để tìm lại con người của mình, tìm
hiểu coi mình là ai. Ðể giúp cho sự tu tập của mình
được quân bình và nghiêm trang, hành
giả nên có một số những đức tánh sau đây.
Ðiều thứ nhất là đức kiên nhẫn. Sẽ
có những lúc mà ngày tháng dường như dài bất tận, và hành giả sẽ tự hỏi
mình, nhất là vào những lúc bốn giờ rưỡi sáng trong ngày lạnh trời: ta làm
gì ở chốn này đây! Trên con
đường tu tập thiền quán sẽ có rất nhiều thăng
trầm. Có những khi hành giả sẽ cảm thấy nhẹ nhàng, an lạc, tươi mát
và sáng suốt. Rồi cũng có những lúc hành giả chỉ cảm thấy sự nhàm chán,
đau đớn, bất an và nghi ngờ. Ðức kiên
nhẫn sẽ giúp hành giả giữ cho tâm mình được
quân bình khi trải qua những kinh nghiệm này. Có người hỏi Trungpa
Rinpoche rằng: "Trong đạo Phật, thần sủng
(grace) nằm ở chỗ nào?". Ông trả lời "thần sủng" chính là
đức kiên nhẫn. Nếu chúng ta có một tâm
kiên nhẫn, chân như của mọi vật sẽ tuần tự phơi bày trong ta một cách tự
nhiên và có tầng lớp. Kiên nhẫn có nghĩa là giữ một tâm quân bình cho dù
bất cứ chuyện gì xảy ra, một tâm thoải mái, nhẹ nhàng và có ý thức.
Milarepa, vị Du già Tây Tạng nổi tiếng, khuyên các
đệ tử của ngài phải "vội vã một cách
chậm chạp". Vội vã ở đây có nghĩa là
cố gắng một cách liên tục, không suy chuyển. Nhưng phải biết cố gắng với
một tâm thức trầm tỉnh và cân bằng. Hãy kiên trì và cố gắng nhưng bao giờ
cũng phải giữ cho mình được thoải mái và
thăng bằng.
Một yếu tố khác có thể giúp cho sự thiền quán của hành giả
được thâm sâu là giữ thinh lặng. Chúng
ta thường không bao giờ có dịp quán sát những gì
đang xảy ra trong tâm của mình vì hay
nói chuyện. Nói chuyện thường làm xao lãng sự chú ý và tiêu hao năng
lực của mình. Những năng lực mà
ta bảo tồn được bằng cách giữ im lặng, có thể
được dùng để khai triển sự tỉnh thức và
chánh niệm của mình. Cũng giống như phương pháp hành thiền, sự thinh lặng
phải được thực hành một cách tự nhiên
và thoải mái. Nhưng đó không có nghĩa là
ta muốn nói chuyện lúc nào cũng được, mà
là phải biết sống một ngày ý thức trong thinh lặng. Nếu ta giữ
được sự thinh lặng, mọi hoạt động, thay đổi
về tâm lý, vật lý trong ta sẽ trở nên vô cùng rõ rệt. Sự thinh lặng
trong ngôn ngữ sẽ dẫn đến sự thinh lặng trong
tâm hồn.
Mọi sự giao thiệp, đụng chạm giữa bạn bè
hay vợ chồng đều nên giới hạn. Ta hãy
tạo cho mình một ý niệm cô độc. Muốn được như
thế, ta hãy tạm bỏ qua một bên những dự tưởng của mình về chính
mình, về sự liên hệ với chung quanh, về những người khác. Ta hãy dùng thời
gian này để kinh nghiệm lấy chính mình
cho thật sâu sắc.
Mỗi người chúng ta, ai rồi cũng sẽ từ giã cuộc
đời này một mình. Cho nên ta hãy tập
đối diện với sự cô đơn căn bản ấy ngay từ bây
giờ, hãy làm bạn với nó. Với sự hiểu biết ấy, tâm ta sẽ trở nên
vững chãi và an lạc. Khả năng này có
thể giúp cho ta sống hòa đồng, an vui với
những người chung quanh ta. Một khi ta có thể tự hiểu được mình, sự
liên hệ với thế giới bên ngoài sẽ trở nên dễ dàng hơn và có
đầy ý nghĩa.
Nhưng để cho khóa thiền này
được lợi ích, bạn không nên
đem pha trộn nhiều phương pháp thiền khác vào
đây. Trong số ở đây chắc có nhiều bạn đã
thực hành nhiều phương pháp của các trường phái khác nhau. Nhưng trong
khóa thiền này tôi xin bạn hãy chỉ tập trung tâm ý mình vào sự tu tập
Vipassana, hay thiền Minh Sát Tuệ. Chính nhờ sự luyện tập chánh niệm mà
trí tuệ phát sinh. Nội trong một tháng này, bạn tập trung hết mọi cố gắng
của mình vào công việc thực tập chánh niệm trong mỗi giây phút, có
được nhự vậy sự tu tập của bạn sẽ khỏi bị
nông cạn. Nếu mọi cố gắng của bạn đều nhằm về một hướng, tâm của bạn sẽ
trở nên vô cùng mãnh liệt và thẳm thấu.
Hãy từ tốn và chậm chạp lại. Ðiều này có một giá trị rất lớn lao. Không
có gì đáng để vội vã cả, không có một
chốn nào để tới, cũng chẳng có một việc gì
khác để làm, chỉ cần thong thả sống
trong giờ phút hiện tại. Trong phạm vi hoạt
động hằng ngày, ta hãy giữ cho mình có một tâm ý thật tỉnh thức,
cẩn thận chú ý đến mọi cử động của mình.
Duy trì tâm ý thỉnh thức liên tục trong một thời gian, sẽ giúp cho công
phu thiền quán của ta càng ngày càng thêm
được thâm sâu.
Chúng ta sẽ bắt đầu phương pháp ngồi thiền
bằng cách đặt chú ý của mình vào một
đối tượng thiền quán giản dị: quán niệm hơi thở. Hãy chọn một thế
ngồi cho được thoải mái, dễ chịu, giữ cho
lưng được tương đối thẳng, nhưng cũng không nên cố gắng quá. Nếu tư
thế ngồi của ta bị tù túng hay không ngay thẳng, chúng ta sẽ dễ dàng trở
nên khó chịu. Bạn cũng có thể ngồi trên một chiếc ghế nếu bạn muốn. Ðiều
quan trọng là đừng nên nhúc nhích
nhiều qua. Mắt nên nhắm, trừ khi bạn đã
tập ngồi thiền mà mắt hơi mở, và bạn muốn chọn cách ấy. Mắt mở cũng chỉ là
một phương cách để đặt ánh mắt vào một
điểm nào
đó, rồi quên nó đi. Theo tôi thấy thì
nhắm mắt lại một cách thoải mái là dễ hơn hết. Nhưng bạn muốn sao cũng
được.
Quán niệm hơi thở có thể được thực hành
bằng hai phương pháp. Khi ta thở vào, bụng ta tự nhiên sẽ phồng lên và khi
ta thở ra nó sẽ xẹp xuống. Bạn hãy giữ sự chú ý của mình vào cử
động của bụng, không phải tưởng tượng cũng
phải hình ảnh hóa một cái gì hết, chỉ kinh nghiệm lấy cảm giác của
cử động lên xuống. Ðừng cố gắng kiểm
soát hơi thở bằng bất cứ một cách nào, chỉ giản dị giữ sự chú ý của mình
vào sự lên xuống của bụng.
Một cách khác là chú ý đến hơi thở ra vào
nơi mũi, giữ tâm ý vào khoảng đầu mũi hay môi
trên. Chú ý vào hơi thở như một người giữ cổng
đứng ngay cửa, biết đến sự ra vào có
mặt của mọi người. Ðừng theo hay dẫn hơi thở
đi vào trong người hay ra ngoài, cũng
đừng kiểm soát hay ép buộc hơi thở. Chỉ giản dị chú ý đến sự ra vào
của hơi thở khi nó đi ngang qua mũi. Trong
giai đoạn đầu bạn nên niệm nói thầm trong tâm "phồng, xẹp" hay "ra,
vào". Phương cách niệm này giúp tâm ý của ta ở với
đối tượng thiền quán của mình.
Trong vài phút thực tập đầu bạn hãy
thử coi đối tượng nào rõ ràng
đối với bạn nhất, sự lên xuống nơi
bụng hay sự ra vào của hơi thở nơi mũi. Rồi bạn hãy chọn lấy một
đối tượng và quyết
định duy trì nó mãi,
đừng thay đổi tới lui. Có những lúc đối tượng
của bạn sẽ trở nên mù mờ khó phân biệt, bạn cũng
đừng thay đổi và hy vọng rằng
đối tượng kia sẽ dễ dàng hơn. Một khi
đã quyết
định chọn một đối tượng để thực hành thiền quán rồi, bạn hãy duy
trì và giữ nó cho đến cùng. Có những
lúc nó sẽ rõ ràng, có những lúc lờ mờ, có những lúc sâu sắc, có những lúc
nông cạn, có những lúc dài, có những lúc ngắn. Nhưng bạn nên nhớ,
đây không phải là một phương pháp
để tập thở; nó chính là bài thực tập
đầu tiên của chánh niệm.
Phương pháp thiền hành được thực hiện bằng
cách chú ý đến các động tác dở lên, bước qua và
đạp xuống của bàn chân, trong mỗi
bước. Bạn nên hoàn tất mỗi bước chân một, trước khi bắt
đầu dở bước kế tiếp. "Dở, bước, đạp, dở,
bước, đạp". Thật giản dị. Cũng vậy, đây không phải là một bài tập
thể dục. Ðây chính là một bài thực tập chánh niệm. Hãy sử dụng những
động tác để phát triển một tâm ý tỉnh thức.
Trong một ngày, bạn nên nhớ rằng sẽ có những thay
đổi. Ðôi khi bạn cảm thấy muốn bước
nhanh hơn, lại có lúc bạn thích đi thật chậm.
Bạn có thể niệm mỗi bước chân theo từng đơn vị một như "bước, bước". Hay
bạn có thể bắt đầu đi thiền hành hơi nhanh, nhưng dần dần chậm lại,
cho đến khi bạn có thể chia từng bước ra thành
ba động tác dở, bước, đạp. Hãy thí
nghiệm. Ðiều chủ yếu là có chánh niệm, ý thức rõ ràng
được những gì
đang xảy ra.
Khi đi kinh hành hai tay nên giữ
yên ở phía trước, sau lưng hoặc hai bên mình. Mắt nên nhìn về phía trước
một chút, không nên nhìn xuống dưới chân,
điều này tránh cho bạn khỏi bị lôi cuốn vào ý niệm "bước chân" khi
đi kinh hành. Tất cả mọi chú ý phải
được tập trung vào kinh nghiệm của
từng cử động, nhận thức được cảm giác của mỗi
động tác dở, bước, đạp.
Ðây là tờ chương trình để cho bạn có một
khái niệm về sự tiến hành của mỗi ngày.
04:30 - 05:00 = thức dậy.
05:00 - 06:30 = kinh hành, ngồi thiền.
06:30 - 07:30 = ăn sáng.
07:30 - 08:00 = kinh hành.
08:00 - 09:00 = ngồi thiền chung.
09:00 - 09:45 = kinh hành.
09:45 - 10:45 = ngồi thiền chung.
10:45 - 11:30 = kinh hành.
11:30 - 01:15 = ăn trưa và nghỉ
ngơi.
01:15 - 02:00 = ngồi thiền chung.
02:00 - 02:45 = kinh hành.
02:45 - 03:45 = ngồi thiền chung.
03:45 - 05:00 = kinh hành, ngồi thiền.
05:00 - 05:30 = uống trà.
05:30 - 06:00 = kinh hành.
06:00 - 07:00 = ngồi thiền chung.
07:00 - 08:00 = pháp thoại.
08:00 - 08:45 = kinh hành.
08:45 - 09:45 = ngồi thiền chung.
09:45 - 10:00 = uống trà.
10:00 - 04:30 = ngủ.
Chương trình sẽ được công bố. Trong những
ngày hay tuần đầu, bạn hãy cố
gắng theo chương trình càng sát càng tốt. Dần dà khi bạn
đã quen với công phu tu tập liên tục,
bạn sẽ khám phá ra một nhịp độ thích hợp với
mình. Hãy cố đi kinh hành và
ngồi thiền cho liên tục. Ăn trưa, uống trà
và mọi công việc khác đều phải được làm
trong chánh niệm, có ý thức. Sau một thời gian bạn có thể thích
đi kinh hành lâu hơn, một tiếng hay
một tiếng rưỡi, rồi mới bắt đầu ngồi. Có
người lại thấy thích ngồi lâu hơn, có khi hai, ba tiếng; lại có người
thích công phu vào những giờ khuya. Trong những thời gian tu tập ở
Ấn Ðộ, tôi thường công phu trong những giờ thật khuya khoắc: khoảng thời
gian từ nửa đêm cho
đến ba giờ sáng, tôi cảm thấy rất im lặng và
thanh tịnh, rất thích hợp cho việc tu tập. Khi sức thiền
định mạnh ta sẽ thấy ít cần đến giấc ngủ. Chỉ
đi ngủ khi nào bạn cảm thấy mệt, chứ
đừng vì thói quen đúng giờ. Có thể đến
một lúc, khi sức tu tập tiến triển đúng mức, bạn sẽ không còn cảm
thấy mệt mỏi và có khả năng công phu ngày
đêm. Hãy cảm lấy những gì hợp với sức
bạn, cố gắng tu tập nhưng nhớ đừng bao giờ
gượng ép hay bó buộc quá.
Thánh Francis de Sales có viết:
Hãy kiên nhẫn với tất cả mọi người, nhưng trên hơn hết, là với chính
anh. Tôi muốn nói là anh đừng có thối chí,
nản lòng về sự bất toàn của mình. Lúc nào cũng phải
đứng dậy với lòng can
đảm mới. Tôi rất mừng là anh bắt
đầu mỗi ngày mới tinh. Bởi vì không có
phương cách nào giúp cho anh đạt đạo tốt hơn
là biết khởi sự lại từ đầu, và
không bao giờ tự cho rằng mình đã làm
quá đủ. Làm sao anh có thể tha thứ lỗi
của người láng giềng, nếu anh không tha thứ lỗi cho chính anh. Người nào
cứ mãi bứt rứt về lỗi lầm của mình sẽ không bao giờ sửa nó
được. Tất cả những sự sửa sai có ích đều đến
từ một tâm hồn bình thản, an lạc.
-ooOoo-
Buổi tối thứ hai
BÁT CHÁNH ÐẠO
Chúng ta vừa mới bắt đầu bước chân vào
một hành trình. Cuộc hành trình đi vào
thế giới của tâm ta. Một cuộc hành trình với mục
đích để khám phá, tìm hiểu con người
thật của mình. Nhưng bao giờ cũng vậy: vạn sự khởi
đầu nan. Mấy ngày tu tập
đầu tiên sẽ
đầy dẫy những bồn chồn, buồn ngủ, chán nản,
lười biếng hay nghi ngờ, và đôi khi còn
hối hận là mình đã lỡ dại tham dự khóa
tu nữa. Bước đầu tiên nào cũng khó cả.
Spinoza, vào lúc gần hoàn tất một tác phẩm triết học của ông, có viết:
"Mọi công trình cao quí đều hiếm hoi và
khó nhọc". Con đường tầm đạo mà chúng
ta đang bước chân vào cũng rất là hiếm
có và trân kỳ. Bởi thế chúng ta phải biết từ tốn. Quyển Mount Analogue là
một tỷ dụ thật đẹp cho cuộc hành trình
mà chúng ta đang đi. Câu chuyện kể lại một
nhóm người cùng nhau đi tìm một
ngọn núi đặc biệt. Chân núi nằm trên
mặt đất, còn
đỉnh núi tượng trưng cho mục tiêu giải
thoát cuối cùng. Lúc khởi đầu, đám người thám
hiểm ấy đã phải đối phó với một chướng
ngại lớn lao: trong những trường hợp bình thường, họ không thể nào
nhìn thấy được chân núi. Họ phải vất vả, khó
nhọc lắm mới có thể định được phương hướng. Sau ngày
đêm khổ cực tìm kiếm, cuối cùng họ tìm
đến được chân núi. Phần còn lại của
quyển sách tả cảnh chuẩn bị, bao khó khăn,
những tranh đấu, hồi hộp trong suốt hành trình
đi đến đỉnh núi.
Chúng ta cũng đang cùng chung một
hành trình với họ: cố leo lên một ngọn núi trí tuệ. Chúng ta
đã biết
được một bí mật về sự tàng ẩn của nó: Giáo pháp, chân lý không thể
tìm thấy ở bên ngoài, nó hiện hữu ở ngay trong ta. Chúng ta chỉ cần bắt
đầu từ ngay giờ phút này.
Con đường lên núi, con
đường giải thoát, đã
được vẽ lại bởi những người đi trước. Một bản
ghi chép rõ ràng nhất có thể tìm thấy trong kinh
điển của đức Phật là Bát Chánh Ðạo.
Bát Chánh Ðạo có nghĩa là tám con đường chân
chánh dẫn đến giải thoát. Ðây là một bản
đồ, một bản hướng dẫn chỉ ta đến mục tiêu
giác ngộ.
Bước thứ nhất trên con đường lên
núi là Chánh Kiến. Chánh kiến có nghĩa là nhìn thấy, hiểu biết
được chân như của sự vật. Thật ra đây là
bước thứ nhất mà cũng là bước cuối cùng. Bởi vì ta phải có một sự hiểu
biết tối thiểu nào đó mới có thể bước chân vào
hành trình này. Và sự hiểu biết ấy sẽ dần dà trở thành trí huệ, có khả năng
đi sâu vào và nhận diện được chân
tướng của tâm. Trong giai đoạn đầu, chánh kiến có nghĩa là thấy
được những luật của thiên nhiên
đang chi phối đời sống của mình. Một
trong những luật quan trọng nhất là luật Nhân Quả (Karma): mỗi hành
động đều sẽ đem lại một kết quả nhất định nào
đó. Không có bất cứ một việc gì, mà tự
nhiên hay vô tình, lại xảy đến cho ta. Mỗi
khi chúng ta hành động vì tham,
sân, si, khổ đau sẽ đến với mình. Còn
những khi chúng ta làm vì lòng từ bi hay trí tuệ, kết quả sẽ là hạnh phúc
và an lạc. Nếu chúng ta khôn khéo biết phối hợp luật nhân quả vào cuộc
sống hàng ngày của mình, ta có thể bắt đầu đào
luyện một tâm ý hoàn toàn tỉnh thức.
Ðức Phật thường nhắc nhở các đệ tử của ngài
về đức tánh rộng lượng. Bố thí là một
biểu lộ của lòng không tham lam ra thành hành
động. Cuộc hành trình của ta gồm có sự buông bỏ, không bám víu và
không quyến luyến của những sự xả bỏ ấy.
Chánh kiến cũng còn là biết chấp nhận mối liên hệ của ta, một nghiệp
quả đặc biệt, với cha mẹ. Ta phải biết nhận lãnh
trách nhiệm cũng như bổn phận đối với các
người. Cha mẹ đã bỏ công khổ cực để
nuôi dưỡng ta, khi chúng ta còn nhỏ bé. Nhờ ơn các người mà giờ này
ta có cơ hội để ngồi đây tu tập giáo lý của
đức Phật. Ðức Phật dạy rằng, không có cách nào
để ta có thể trả ơn này. Cho dù ta có
cõng các người trên hai vai cho đến cuối cuộc
đời mình cũng vẫn chưa đủ. Chỉ có một
phương pháp để trả ơn cha mẹ mình, là giúp các người hiểu biết và
hiểu được giáo lý của đức Phật, sống trong
chánh kiến. Nói chung thì chúng ta đã
bỏ biết bao nhiêu thời gian, công sức của mình ra
để được độc lập với cha mẹ, về phưong diện
tinh thần. Ðiều này tất nhiên cũng có một giá trị. Nhưng trong
khoảng không gian tự do đó, ta nên
chấp nhận trách nhiệm của mình đối với các
người.
Chánh kiến cũng có nghĩa là thấy và hiểu
được cái tánh chân thật, cái chân như của mình. Khi sự tu tập thiền
quán tiến bộ, ta sẽ càng lúc càng nhận rõ
được tính cách vô thường của mọi vật. Mọi yếu tố của tâm và thân
chỉ tồn tại trong chốc lát rồi tan biến mất, sanh ra rồi diệt
đi một cách liên tục. Hơi thở vào rồi
ra, tư tưởng đến rồi đi, cảm giác có rồi
không. Mọi hiện tượng đều luôn biến đổi, chuyển dịch. Trong cuộc vô thường
không có gì là bảo đảm vĩnh viễn cả.
Một khi ta thật sự hiểu được bản chất vô ngã của mọi vật, những
quan niệm của ta về sự sống và thế giới chung quanh sẽ thay
đổi một cách không ngờ. Tâm của ta sẽ thôi
nắm bắt và đeo đuổi, khi ta hiểu được
mọi hiện tượng đều có tánh cách nhất thời, chốc lát, thay đổi trong mỗi
giây phút. Và nhất là khi ta có thể kinh nghiệm
được những diễn biến của thân và tâm
khi chúng không còn bị chi phối bởi cái ngã. Với một sự tu tập thiền quán
chuyên cần và sâu sắc, chánh kiến sẽ khai triển.
Bước thứ nhì của Bát Chánh đạo là
Chánh Tư Duy. Chánh Tư Duy có nghĩa là suy nghĩ
đúng với sự thật. Nó có nghĩa là tư
tưởng không bị chi phối bởi những tham muốn của cảm giác, lòng ác tâm và
tánh bất nhẫn. Những khi tâm ta còn bị dính mắc vào cảm giác, ta sẽ
đuổi theo những đối tượng bên ngoài,
đi tìm một hạnh phúc quá phù du, vì
bản tính của mọi vật là vô thường, thay đổi.
Những thú vui đều chỉ tạm bợ, nhưng lòng ham muốn thì cứ tăng
trưởng. Cái vòng lẩn quẩn này của dục vọng khiến cho tâm ta lúc nào
cũng náo động và rối loạn. Nhưng giải
thoát tâm ta khỏi những dục vọng không có nghĩa là
đàn áp hay chối bỏ chúng. Một khi ta
đàn áp một sự ham muốn nào, nó sẽ chỉ
biến tướng thành một tâm tánh khác. Nhưng nếu mỗi khi ta có một sự ham
muốn nào, ta chấp nhận và đi thỏa mãn
nó, thì kết quả cũng chẳng khá gì hơn. Chánh Tư Duy có nghĩa là ý thức
được những ham muốn của các giác quan và
rồi buông bỏ chúng. Buông bỏ được bao nhiêu,
tâm chúng ta sẽ được nhẹ nhàng bấy
nhiêu. Dần dà tâm ta sẽ bớt đi những xáo
trộn, rối loạn, ta sẽ có khả năng giải thoát mình ra khỏi ngục tù
của hoàn cảnh, những trói buộc của dục vọng.
Tư tưởng không bị chi phối bởi những ác tâm có nghĩa là ta không bị cai
quản bởi sự giận dữ. Giận dữ là lửa cháy trong tâm, nó có khả năng
thiêu đốt ta và những người
chung quanh nếu ta không cẩn thận. Ta có khả năng
đối trị tâm nóng giận, nếu ta có thể ý thức được nó để rồi buông bỏ. Khi
ấy tâm ta sẽ trở nên nhẹ nhàng và thoải mái, bản chất yêu thương
của tâm sẽ tự nhiên hiển lộ.
Tư tưởng không bị chi phối bởi tánh bất nhẫn có nghĩa là ta có tâm từ.
Tâm từ có nghĩa là có lòng thương xót những ai
đang bị đau khổ và muốn cứu giúp họ.
Trong sự tu tập thiền quán, ta nên có tâm từ
đối với tất cả mọi sự sống chung quanh.
Bước kế tiếp trong hành trình lên núi là Chánh Ngữ. Chánh ngữ dạy cho
ta cách tiếp xúc, liên hệ đến hoàn
cảnh và những người chung quanh ta. Chánh ngữ là một phương thức có khả năng
giúp ta sống hòa hợp với thế giới chung quanh, thiết lập một mối
liên hệ hòa ái giữa ta và những người khác hay thiên nhiên. Chánh ngữ là
không nói những gì sai với sự thật, hoặc nói những lời chia rẽ và căm
thù; chỉ nói những lời chân thật và có giá trị xây dựng sự hiểu
biết và hòa giải.
Có một câu chuyện kể lại đức Phật, sau khi
thành đạo, trở về gặp lại gia đình
của ngài. Nhiều người thân thuộc, bạn bè cảm phục bởi tư cách từ bi, tỉnh
thức của Phật đã xin
để được quy y theo ngài. Trong số
đó có Rahula, con trai của đức Phật. Lúc ấy
Phật có thuyết giảng một bài pháp tên là: "Lời khuyên cho Rahula".
Trong bài giảng này Phật dạy đứa con ruột của
ngài, đừng vì bất cứ một lý do
nào mà phải nói những lời không chân thật, cho dù nó có
đem lợi ích đến cho mình hay bất cứ
một ai. Sự trung thành của mình với sự thật là một
điều tối quan trọng. Nó giữ cho những liên
hệ của mình với thế giới chung quanh được dễ
dàng và đở phúc tạp hơn. Thành
thật trong lời nói sẽ dẫn đến cho sự thành
thật với chính mình. Trong thân và tâm của ta, có biết bao nhiêu chuyện mà
ta hằng trốn tránh: những đau đớn, bực dọc mà
ta không bao giờ muốn nhắc đến. Nhưng như vậy
là ta đã không thành thật với
chính mình. Chân thật trong lời nói là căn
bản cho sự chân thật trong tâm tưởng. Có thành thật với chính mình,
ta mới có thể cởi mở tâm mình ra. Và nhờ đó mà
ta có thể nhận diện và đối trị với mọi trạng
thái bệnh hoạn của tâm hồn.
Bước thứ tư trên con đường đi lên
là Chánh Nghiệp. Chánh Nghiệp có nghĩa là chọn một lối sống chân chánh:
không sát sanh, không làm cho người khác bị
đau khổ; không trộm cắp, không lấy những gì không phải là của mình;
không tà dâm, cũng có nghĩa là không vì những lòng ham muốn, tham dục thể
xác mà làm khổ người khác.
Thường chúng ta ít khi thấy được những hậu
quả lâu dài gây ra bởi hành động của mình.
Trong Mount Analogue có một câu chuyện nói vể việc này:
Ðối với những người leo núi, có một luật mà ai cũng phải tuân theo là
khi lên đến một độ cao nào
đó, họ không được phép giết hại bất cứ một
sinh vật nào. Họ phải mang theo thực phẩm
đầy đủ. Một hôm có một người leo lên
quá độ cao ước định đó, nhưng chẳng may anh
ta bị kẹt trong một trận bảo tuyết. Trong liên tiếp ba ngày trời
anh sống trong một căn lều tạm bợ, không thực
phẩm. Gió tuyết lạnh đông đá hết mọi vật chung quanh. Ðến ngày thứ
ba cơn bảo đi qua. Trong một lỗ hang nhỏ dưới
lớp tuyết, anh thấy có một con chuột già chun lên. Bụng
đói vì ba ngày không
ăn, anh nghĩ không có hại gì khi giết
con chuột già này để đở đói. Anh ta tìm
một cục đá và giết con chuột. Xong anh
trở xuống núi, chẳng nghĩ gì đến con vật mình
vừa sát hại. Cho đến một hôm anh bị đem ra xử
trước toà, bởi những người có phận sự bảo trì ngọn núi và những con
đường mòn chung quanh. Anh bị xử về
tội sát hại con chuột, mà đến giờ này
anh đã quên bẳng. Dường như hành
động nhỏ nhặt của anh lúc đó, giờ đã
gây nên một tai họa. Con chuột già yếu mà anh giết ngày
đó, vì không
đủ sức đuổi bắt những con côn trùng
khỏe mạnh, nên nó sống bằng cách tìm ăn những
con côn trùng bệnh họan. Khi nó bị giết
đi, dân số côn trùng bệnh hoạn không
còn được thiên nhiên kiểm soát nữa.
Bệnh hoạn lan tràn sang những côn trùng khỏe mạnh khác và dần dà cả loài
bị tiêu diệt. Những côn trùng này từ lâu có trách nhiệm trong việc bón
phân và truyền phấn hoa đến những nhụy cái,
cho các loài thực vật mọc trên sườn núi. Khi loài côn trùng chết
đi, những thực vật mất đi chất nuôi dưỡng và
phương tiện truyền chủng, nên chúng cũng tàn tạ theo. Từ bấy lâu nay,
những thực vật mọc ở hai bên sườn núi giúp giữ cho
đất đá được liền lại với nhau. Giờ trơ trọi,
sườn núi cũng bắt đầu bị thời tiết ăn mòn. Cuối cùng, một trậm
đất lở đã giết chết một số người leo
núi và ngăn trở con đường đi lên. Tất
cả bắt đầu từ một hành
động dường như vô hại là giết một con
chuột già yếu.
Bởi vì chúng ta thường không có khả năng
nhìn thấy những hậu quả lâu dài của hành
động mình, chúng ta hãy có ý thức
trong từng việc làm, đừng tiêu diệt
thế giới chung quanh, hãy đi gieo những hạt
giống của an lạc, từ bi và hạnh phúc.
Bước kế tiếp trong Bát chánh đạo là
Chánh Mạng. Chánh Mạng có nghĩa là chọn một phương thức sinh sống nào
đừng làm tổn hại
đến người khác; những nghề nghiệp nào
không liên quan đến sự sát hại, trộm cắp hay
lường gạt kẻ khác. Thông thường thì những nghề như buôn bán hay chế
tạo vũ khí và rượu, săn bắn, đánh cá đều có làm
tổn thương đến những sinh vật khác.
Ðạo pháp không phải là ngồi yên một chỗ. Ngồi yên là một phương tiện hiệu
quả để đạt đến trí tuệ và hiểu biết
phải được thể hiện vào
đời sống của chúng ta. Chánh mạng là
một trong sự thể hiện đó. "Hãy bước
đi thiêng liêng như những người da
đỏ. Hãy biến sự sống của mình thành
một nghệ thuật". Hãy làm những gì chúng ta làm với một thái
độ cẩn trọng. Hãy làm với một ý niệm
tỉnh thức.
Ba bước kế tiếp có liên quan đến sự tu tập
thiền quán. Bước đầu tiên trong ba bước này lại là bước quan trọng
nhất: Chánh Tinh Tấn. Thiếu sự cố gắng ta sẽ chẳng làm
được gì. Trong Vi Diệu Pháp
(Abhidharma) có nói: Tinh tấn, cố gắng là gốc rễ của mọi thành công, là
nền móng của sự thành đạo. Nếu chúng ta muốn
lên đến đỉnh núi mà chỉ biết
ngồi mơ tưởng thôi, thì ngàn năm vẫn sẽ chẳng
có việc gì xảy ra. Bất cứ một hành trình nào cũng là một tập hợp
của những sự cố gắng, dụng công: nhờ bước từng bước nhỏ mà ta lên
đến đỉnh núi. Ramana Maharshi, một vị thánh
của thời đại này ở Ấn Ðộ, viết: "Chưa ai có thể thành công mà không
phải cố gắng. Tâm an lạc không phải là một tánh tự nhiên ta có khi mới
sanh. Những ai thành công đều nhờ ở đức tính
nhẫn nại của mình". Nhưng tinh tấn, cố gắng phải trong một mức
độ quân bình. Bởi sự nóng nảy hay khẩn
trương là những trở ngại lớn trên con đường
tu tập. Năng lực phải được quân bình với sự tỉnh lặng. Nó cũng
giống như khi ta lên dây đàn. Dây
đàn lên cứng quá hay lỏng qua cũng
không thể phát ra được đúng âm độ. Trong sự
tu tập của ta cũng thế, chúng ta phải tinh tấn kiên trì nhưng với
một tâm thoải mái và quân bình, cố gắng nhưng không
đàn áp. Trong ta có ngàn hiện tượng
đang chờ sự khám phá, tâm ta có muôn từng
muôn lớp để tìm hiểu. Với sự tinh tấn, con
đường tu tập của ta sẽ rộng mở. Không ai có
thể cố gắng dùm ta được. Không ai có
thể giác ngộ dùm ta được. Sự giác ngộ
của đức Phật đã giải quyết vấn đề cho
ngài, chớ không giải quyết vấn đề cho
ta... có chăng là chỉ cho ta một lối thoát. Mỗi người chúng ta phải
tự thắp đuốc lên mà
đi.
Chánh niệm là bước thứ bảy trên con đường
Bát chánh. Chánh niệm có nghĩa là ý thức
được những gì
đang xảy ra trong giờ phút hiện. Tôi muốn nói
chú ý đến những sự thay đổi, biến chuyển của mọi hiện tượng: khi đi, ý
thức được những cử động của cơ thể; khi quán hơi thở, ý thức được cảm giác
ra vào hay lên xuống; ý thức được sự
có mặt của từng tư tưởng hay cảm giác. Như một thiền sư nào
đó nói: "Khi anh đi, đi. Khi anh chạy, chạy.
Ðiều trên hết là đừng có do dự". Bất
cứ đối tượng là gì, bạn hãy ý thức
được nó, nhưng đừng cố nắm bắt vì đó là
tâm tham, cũng đừng xua đuổi vì
đó là tâm sân, và cũng
đừng lãng quên vì
đó là tâm si. Hãy quan sát những biến
chuyển cùng diễn biến của đối tượng. Một khi
chánh niệm được phát triển đúng mức, tất cả sẽ trở nên nhịp nhàng
và một ngày trở thành một điệu vũ. Chánh niệm
sẽ đem lại cho tâm ta một sự thăng bằng và an tĩnh. Nó có khả năng
giữ cho tâm ta được sắc bén, để ta có thể ngồi lại mà quan sát,
theo dõi những hiện tượng xảy ra chung quanh như một vở tuồng.
Bước cuối cùng trên con đường lên
đến đỉnh núi là Chánh Ðịnh. Chánh Ðịnh
có nghĩa là có khả năng tập trung tâm ý, giữ
cho tâm mình ở với một đối tượng duy
nhất. Những ngày đầu tu tập, bạn sẽ
cảm thấy khó khăn vì chưa có nhiều
định lực. Khi leo núi, chúng ta phải có ít nhất một sức khỏe cần thiết nào
đó. Nếu không có đủ sức khỏe, lúc ban đầu ta
sẽ dễ mệt và khó chịu. Nhưng dần dà khi cơ thể quen
đi, ta cảm thấy khỏe khoắn và việc leo
núi sẽ trở nên dễ dàng hơn. Sự tu tập thiền quán của ta cũng thế. Khi
định lực khai triển, ta sẽ có khả năng sống
trong hiện tại dễ dàng hơn. Những khó khăn
lúc ban đầu sẽ không còn là một trở ngại nữa.
Nếu bạn đặt một nồi nước lên lò,
rồi cứ vài phút lại mở nắp ra, chờ cho nước sôi cũng là lâu lắm. Nhưng nếu
bạn đặt nồi lên lò, rồi
để yên
đừng đụng đến, thì nước sẽ chóng sôi lắm.
Các khóa tu thiền là những cơ hội quý báu giúp cho ta tập phát triển
định lực và chánh niệm. Bằng sự tu tâp
liên tục, mỗi giây phút được xây dựng bằng
một công phu của giây phút trước, trong một thời gian ngắn tâm ta sẽ trở nên
sắc bén và có khả năng soi thấu được chân
tướng của sự vật.
Hành trình của chúng ta bao gồm sự sống hòa hợp với thế giới chung
quanh và tìm hiểu lấy chính mình. Trong Mount Analogue có lời khuyên sau
đây cho những ai đang đi trên con
đường tỉnh thức: "Hãy giữ ánh mắt của
mình trên con đường đi lên. Nhưng nhớ
đừng quên nhìn những gì ngay trước
mặt. Bước cuối cùng nương tựa vào bước đầu tiên.
Ðừng nghĩ rằng bạn đã
đến nơi chỉ vì bạn
đã nhìn thấy
đỉnh núi cao. Hãy cẩn thận chỗ bạn sẽ
đặt chân. Bước tới cho vững vàng.
Nhưng đừng vì vậy mà xao lãng mục tiêu
cuối cùng. Bước đầu tiên nương tựa vào
bước chót".
Sống vững vàng trong hiện tại, phát triển chánh niệm trong từng giây
phút và vững tin nơi khả năng tự do của sự
tỉnh thức.
Hỏi: Tôi có cảm giác rằng hơi thở vào lúc nào cũng mạnh hơn,
điều này làm xáo trộn sự tập trung của
tôi. Tôi phải làm gì?.
Ðáp: Hơi thở là một đề mục rất hay và
quan trọng trong thiền quán, vì hơi thở có rất nhiều trạng thái và cường
độ mạnh nhẹ khác nhau. Có khi nó mạnh và
nặng nề, có khi nó thoải mái và nhẹ nhàng. Hơi thở có thể thay
đổi giữa khi ta thở vào và thở ra, hay
là sau một thời gian ngắn. Cũng có những lúc hơi thở nhẹ
đến nỗi ta không cảm thấy gì hết. Hơi
thở là một đề mục vô giá trong thiền quán:
bởi vì một khi hơi thở trở nên nhẹ nhàng, ta có thể dùng nó
để đem tâm mình an tịnh xuống cùng một
mức độ với hơi thở. Khi bạn thấy hơi thở càng
lúc càng trở nên thanh nhẹ, lắng tâm xuống thật yên
để có thể nhận diện được nó. Nó đòi
hỏi một sự cố gắng - để không làm gì
hết, chỉ yên lặng.
Hỏi: Làm cách nào để biết một người đã
giác ngộ?.
Ðáp: Một người giác ngô hay tỉnh thức không
để lại một dấu vết nào hết. Làm sao ta
có thể đo lường được một tâm tự tại bằng
những giác quan giới hạn của mình! Nó
đã ra ngoài sự suy luận. Cũng giống như ta
đi tìm một ánh lửa
đã tắt. Bạn tìm kiếm ở
đâu bây giờ? Bạn không thể nghĩ giác ngộ,
tỉnh thức như là một cái gì có thể
đụng chạm hay sờ mó được. Người tỉnh thức không có một dấu hiệu đặc biệt nào
trên trán họ hết, nhưng bạn vẫn có thể cảm nhận
được họ qua những đức tánh thương yêu,
hiểu biết mà họ có.
Hỏi: Về sự liên hệ với cha mẹ và trách nhiệm hướng dẫn họ vào
đạo pháp. Cha mẹ tôi thắc mắc tại sao tôi lại
đi dự nhiều khóa thiền như thế này, tôi cố gắng giải thích nhưng
hình như không có cách nào làm cho họ hiểu
được!.
Ðáp: Có rất nhiều cách để người ta thông
cảm nhau - mà thường thì lời nói lại là một phương tiện kém hữu
hiệu nhất. Nếu bạn ở với cha mẹ hay bất cứ một ai, mà bạn giữ sự an lạc,
tĩnh lặng, không phê phán ai, chấp nhận, thương yêu và tử tế, tôi nghĩ bạn
sẽ không cần phải nói một lời nào. Con người an lạc của bạn tự nó có khả năng
tạo nên một khoảng không gian tươi mát. Ðiều này
đòi hỏi thời gian tu tập. Người ta bao
giờ cũng vẫn có thành kiến với những gì không hợp với quan niệm của mình.
Khi nào bạn nói những điều gì có vẽ
khác thường, mới lạ họ sẽ trở nên bảo thủ. Thế nên ta
đừng bao giờ chấp vào hình thức quá,
hãy sống tự nhiên, đạo pháp sẽ hiển bày.
Một tâm tĩnh lặng sẽ ảnh hưởng đến thế giới
chung quanh. Nó đòi gỏi thời gian, sự kiên nhẫn và thật nhiều tình
thương.
Hỏi: Trong khi ngồi thiền, tôi thường thấy mình hay tưởng tượng hơi thở
tôi là một luồng nước, chảy tới lui trong một
đường hầm. Những hình ảnh như thế có hại cho chánh niệm không?.
Ðáp: Có. Cốt tủy của pháp tu thiền quán này là trực tiếp kinh nghiệm
chứ không phải dùng tưởng tượng. Hình ảnh hóa hơi thở của mình là tạo nên
một khái niệm. Khái niệm không phải là sự thật, nó chỉ là bóng dáng của sự
thật. Ðiều cần nhớ là kinh nghiệm những cảm giác của hơi thở, chứ không
phải tạo nên một ý niệm về hơi thở.
Hỏi: Việc tôn thờ thượng đế áp dụng vào
sự tu tập này cách nào?.
Ðáp: Tùy theo định nghĩa của bạn về thượng
đế. Mỗi người có một câu trả lời khác nhau. Ta có thể nói thượng đế tức là
chân lý tối cao, đạo pháp, chân như của vạn
vật. Hiểu như vậy, thì tôn thờ thượng
đế có nghĩa là sống trong chân lý, sống
đúng với giáo pháp. Ðể cho giáo pháp
tự nhiên phô bày.
-ooOoo-
Buổi sáng thứ ba
BÀI THỰC TẬP: CẢM THỌ
Cảm thọ là một đề mục vô cùng quan
trọng trong thiền quán. Trong mỗi giây phút, chúng ta lúc nào cũng bị chi
phối bởi một trong ba loại cảm thọ sau đây:
lạc thọ, tức là những cảm thọ êm ái, dễ chịu; khổ thọ, tức những
cảm thọ có tính cách đau đớn, khó chịu; trung
tính thọ, tức những cảm thọ không dễ chịu cũng không khó chịu. Chính những
tính chất êm ái và dễ chịu của lạc thọ khiến ta bị lôi cuốn ham mê.
Và ngược lại ta cũng xô đuổi và trốn
tránh những khổ thọ trong cuộc sống hàng ngày, vì tính chất khó chịu,
đau đớn của chúng. Nhưng khi ta có chánh niệm
về cảm thọ của mình, ta sẽ có khả năng
nhận diện mọi cảm thọ với một tâm quân bình và không phân biệt.
Cảm thọ chi phối ta mạnh mẽ nhất là những cảm giác của thân thể. Chúng
ta ai cũng có thể dễ dàng kinh nghiệm được
những cảm giác dễ chịu hoặc đau đớn, đang có mặt trong thâm mình.
Chú ý rõ ràng đến những cảm giác này
là một trong những phương pháp thiền quán về cảm thọ: kinh nghiệm những
cảm giác dễ chịu, nhẹ nhàng, êm dịu mà không bị lôi cuốn và cũng như không
xua đuổi, ghét bỏ những cảm giác khó chịu,
nặng nề hay đau đớn. Hãy tự nhiên quan sát, nhìn xem mọi cảm giác
đang có mặt trong thân - nóng, lạnh, ngứa
ngáy, êm dịu, nặng nề - đến rồi đi mà
không phê phán, thương ghét hay nhận nó là mình.
Khi bắt đầu ngồi thiền, bạn hãy
khởi sự bằng cách chú ý đến hơi thở của mình,
sự lên xuống ở nơi bụng. Rồi khi có bất cứ một cảm giác nào nổi lên trong
thân, hãy chú ý đến nó, ý thức được hoàn
toàn về sự có mặt của nó. Ðiều quan trọng nhất là phải giữ một thái
độ tự nhiên, thoải mái khi quan sát
những cảm giác, nhất là những cảm giác đau
đớn, khó chịu. Thân và tâm ta lúc nào cũng có khuynh hướng căng
thẳng, khẩn trương khi đối diện với những khổ thọ. Ðó là kết quả
của những thái độ ghét bỏ, tránh né, lâu ngày
dần dà tạo nên một sự thiếu quân bình trong tâm. Bạn hãy thử tự nhiên nhìn
cái đau của mình và quan sát những
thay đổi, biến chuyển của nó. Một khi tâm của
mình dược yên tịnh xuống, nhẹ nhàng và có chánh niệm, ta có thể
kinh nghiệm được rằng cái đau không phải là
một khối cứng ngắc, nó biến tướng, thay đổi,
sanh diệt từng giây phút một. Hành giả hãy ngồi với một tâm yên
lặng, thoải mái quan sát những diễn biến của cảm giác,
đừng ghét bỏ, cũng đừng ước vọng.
Ðau là một đề mục khá hữu hiệu trong thiền
Minh Sát. Bởi một cảm giác đau trong cơ thể, nếu biết sử dụng nó có khả
năng đem lại cho ta một định lực rất mạnh. Bởi cái đau có thể giữ tâm ta ở
một chỗ, mà không bị lay chuyển nhiều. Nhưng bất cứ một cảm giác
nào đang có mặt trong thân, đều có thể trở thành
một đối tượng của thiền quán. Trong trường
hợp không có một cảm giác nào đặc
biệt, hành giả có thể trở về với hơi thở hay sự lên xuống ở bụng.
Sự quan sát, ghi nhận phải có tính cách tự nhiên chứ không
được máy móc, vội vàng. Hãy ghi nhận
mọi việc xảy ra như "phồng, xẹp", "nóng", "lạnh", "đau",
"ngứa", "mát", "phồng, xẹp" một cách từ tốn, đều đặn. Khi cảm thấy mình
đang bị căng thẳng bởi cái đau có mặt trong
thân, bạn hãy cẩn thận quán sát tính chất khó chịu, bản chất của
cái đau. Hãy giữ chánh niệm về cảm thọ
của mình, rồi thì sự quân bình, an lạc trong tâm tự nhiên sẽ tới.
-ooOoo-
Buổi tối thứ tư
CHÚ Ý ÐƠN THUẦN
Trong kinh có nói hai ngàn năm trăm năm
sau khi đức Phật nhập diệt, đạo Phật sẽ sống lại một cách huy hoàng
và khởi sắc. Ngày hôm nay, chúng ta thấy lời tiên
đoán đó đang trở thành một sự thật.
Nhưng trước khi ta có thể hiểu được tầm quan
trọng của lời tiên đoán này, ta
phải hiểu giáo pháp là gì? Giáo pháp hay Ðạt Ma, phát xuất từ chữ Phạn
"Dharma", có nghĩa là luật, đạo, chân như của
vạn vật, sự biến chuyển của mọi hiện tượng, hay nói một cách khác: giáp lý
của đức Phật. Tất cả những cái đó đều gọi là Pháp (Dharma). Nó cũng
có một nghĩa bao gồm mọi tế bào trong thân, mọi yếu tố của tâm, trong tất
cả các sinh vật. Những yếu tố của tâm như là ý nghĩ, thị lực, tình cảm,
tâm tưởng đều có thể gọi chung là
Pháp. Phận sự của người tu tập thiền quán là tìm hiểu, khám phá những pháp
vừa kể trong thân và tâm của mình, ý thức
được từng yếu tố một, cũng như hiểu được luật biến chuyển và sự
liên hệ của chúng. Ở đây, sự tu tập của chúng
ta là như thế đó: kinh nghiệm được
chân như của mình trong mỗi giây phút, chân như có nghĩa là tự thể
chân thật của sự vật.
Tâm ta có một phẩm tính rất là quan trọng
để dùng vào thiền quán. Phẩm tính này làm căn
bản và nền móng cho sự giác ngộ, nó chính là sự chú ý
đơn thuần (bare attention). Chú ý đơn thuần
có nghĩa là nhìn sự vật như là nó hiện thực, nó là như vậy, không
chọn lựa, không so sánh, không đánh giá,
không đặt quan niệm, thành kiến của mình lên trên sự nhận xét. Chú
ý đơn thuần là một tâm ý không phê
phán và không can thiệp vào.
Phẩm tính này của tâm được diễn tả bằng
một bài thơ Nhật, Haiku sau đây:
Hồ thu lặng,
Ếch nhảy vào,
Tõm!
Không thêm bớt một hình ảnh nào, không có cảnh mặt trời chiều hay bầu
trời mùa thu hoàng hôn phản chiếu trên mặt hồ. Tác giả không hề linh
động hóa cảnh vật. Chỉ kể lại một cách chi
tiết rõ ràng, nhận xét của ông với việc xảy ra trước mắt:"Hồ thu
lặng, ếch nhảy vào, tõm!" Một nhận thức đơn
thuần: nhìn và quan sát sự vật với một tâm giản dị và trực tiếp.
Không có gì là dư thừa hết. Ðây là phẩm tính trí tuệ và thẳm thấu của tâm.
Khi ta phát triển được một sự chú ý đơn
thuần, đời ta sẽ thay đổi trên nhiều phương diện. Chân ngôn của
thời đại bây giờ là "hãy sống trong
hiện tại" - sống ngay trong giờ phút này. Nhưng vấn
đề là sống làm sao
đây! Ðầu óc ta thì cứ nhớ mãi những
chuyện đã xảy ra trong quá khứ, nếu
không thì tính toán cho tương lai, lúc nào cũng bồn chồn, lo nghĩ. Hồi
tưởng về quá khứ; mơ mộng cho tương lai; sống trong giờ phút hiện tại
không phải là chuyện dễ làm. Chú ý đơn thuần
là một phương cách giúp ta sống và tỉnh thức trong giây phút hiện
tại. Từ tốn lại trong giờ phút này, kinh nghiệm
được hoàn toàn những gì
đang xảy ra.
Có một câu chuyện thiền nói về việc sống trong hiện tại. Hai vị sư trở
về chùa khi trời đã nhá nhem tối, sau
một ngày mưa tầm tả. Ðường xá trong thành phố ngập nước, lầy lội. Cả hai
đến một ngả tư đường, gặp một cô gái trẻ đẹp.
Cô ta đang đứng bối rối vì đường quá sình
lầy, không băng qua được. Ngay lúc ấy, vị sư
thứ nhất bèn bồng cô ta lên và băng
qua bên kia đường, rồi để cô xuống.
Xong cả hai tiếp tục đi. Tối đó về đến chùa, vị sư thứ hai không
còn nhịn được nữa, lên tiếng trách:
- Tại sao huynh lại có thể làm một chuyện như thế
được? Chúng ta là người tu hành, nhìn
phụ nữ còn chưa được chứ còn nói gì
đến chuyện đụng chạm họ. Nhất là những
cô gái trẻ đẹp.
Vị sư thứ nhất đáp:
- Tôi đã bỏ cô ấy xuống bên kia
đường rồi, huynh còn mang cô ta về
đến tận đây sao?
Khi ta có được một nhận thức đơn thuần, ý
thức được sự có mặt của bất cứ những gì
đang xảy ra chung quanh, ta có thể kinh
nghiệm và đối phó với hoàn cảnh
hiện tại một cách chính xác và tự tại hơn.
Chú ý đơn thuần có khả năng làm cho
tâm ta được tĩnh lặng. Tâm chúng ta thường
hay phản ứng: bám víu vào những gì làm mình dễ chịu, và xua
đuổi những gì làm mình khó chịu. Ta
hành động vì lòng ta ưa thích hoặc
ghét bỏ của mình. Tâm ta thiếu quân bình. Một khi sự chú ý
đơn thuần được khai triển, ta sẽ kinh nghiệm
được những cảm xúc, ý nghĩ của mình và hoàn cảnh chung quanh, mà
không bị lôi cuốn hay sanh ác cảm. Ta sẽ có khả năng
kinh nghiệm được hoàn toàn những gì
đang xảy ra với một tâm tĩnh lặng và quân bình.
Nhưng việc tập luyện một sự chú ý đơn
thuần (bare attention) không chỉ giới hạn vào những lúc ngồi thiền
sáng và chiều. Nếu ta nghĩ rằng mình chỉ tu tập thiền quán vào những giờ
ngồi thiền, còn những lúc khác thì không, là ta
đã đập vỡ
cuộc sống của mình ra thành từng mảnh, và phá hoại công trình tu
tập của mình rồi. Chánh niệm phải được áp
dụng cho mọi lúc, mọi hoàn cảnh, dù ta
đang có đi, đứng, nằm, ngồi, nói chuyện hay là
ăn uống. Ta phải biết sử dụng sự chú ý đơn
thuần cho mọi đối tượng, mọi tâm trạng, mọi hoàn cảnh. Hãy sống
trọn vẹn trong từng giây, từng phút một. Có câu chuyện về một người chạy
trốn một con cọp. Anh ta chạy đến bên
bờ một vực thẳm, nắm lấy một dây nho và đu
xuống. Bên trên anh con cọp đứng nhìn,
phía dưới lại có một con cọp khác đang gầm gừ
chờ anh rơi xuống. Trong khi anh đang bị treo lơ lửng thì có hai
con chuột đang gậm nhấm sợi dây nho mà
anh đang bám. Lúc ấy anh chợt thấy một trái
dâu đỏ chín mọc gần đó. Anh vói tay hái. Trái dâu ngọt lịm làm sao!
Sự chú ý đơn thuần, khi tu tập đúng mức sẽ
trở nên tự nhiên, không phải đòi
hỏi một sự dụng công nào nữa. Cũng giống như khi ta học chơi một nhạc cụ
vậy. Ta ngồi xuống, học một vài lý thuyết rồi
được đưa những bài thực tập. Lúc đầu
ngón tay chưa quen, còn vụng về ta sẽ
đánh những nốt sai và âm điệu sẽ rất là
khó nghe. Nhưng nếu siêng năng luyện tập, dần
dà tay ta sẽ quen, những cử động sẽ
trở nên dễ dàng, âm thanh sẽ êm dịu hơn. Sau một thời gian, khi sự
luyện tập đã chín mùi, mọi cử
động sẽ trở nên tự nhiên và vô ngại.
Lúc ấy sẽ không còn biên giới giữa thực tập và thực hành, chơi nhạc tự nó
là tập nhạc. Sự tu tập chánh niệm cũng thế. Lúc
đầu ta theo dõi mọi cử
động một cách chậm chạp, từng bước chân "dở,
bước, đạp", từng hơi thở "phồng, xẹp" hay là "ra, vào". Trong giai
đoạn đầu sự tinh tấn và cố gắng là một
yếu tố quan trọng. Dòng chánh niệm của ta bị
đứt quảng rất nhiều. Biết bao nhiêu là trở ngại và phấn
đấu. Nhưng khi tâm ta đã
được tôi luyện đúng mức, chánh niệm sẽ tăng
trưởng một cách tự nhiên. Trên hành trình tu tập, sẽ có một lúc sự
xung động của chánh niệm trong tâm, mạnh đến
nỗi nó có thể tự hoạt động một mình mà không cần
đến sự dụng công của ta. Lúc ấy mọi sự sinh
hoạt của ta sẽ trở nên dễ dàng, giản dị và tự nhiên, nhờ ta có
được một chánh niệm vô ngại.
Chú ý đơn thuần là tập lắng nghe
những gì đang xảy ra trong thân, trong tâm và
thế giới chung quanh ta. Chắc một lần nào đó,
bạn đã có một dịp ngồi bên một dòng sông, hay trên một ghềnh
đá bên bãi biển. Lúc
đầu ta chỉ nghe một khối âm thanh rào
rạt. Nhưng nếu ta ngồi yên thêm một chút, chỉ ngồi và lắng nghe thôi, ta
sẽ bắt đầu nghe được muôn ngàn âm
thanh nhỏ khác biệt nhau, tiếng sóng biển vỗ trên ghềnh
đá, tiếng dòng sông chảy mạnh. Với tâm
tĩnh lặng ta có thể kinh nghiệm được thật sâu
sắc những gì đang xảy ra. Khi ta lắng
nghe nơi chính mình cũng thế, lúc đầu
ta chỉ có thể nghe được một tiếng nói của cái "Ngã" hay "Tôi".
Nhưng dần dần, cái Tôi này sẽ hiển lộ cho ta thấy nó chỉ là một tập hợp
của những yếu tố, tư tưởng, cảm giác, tinh cảm và hình ảnh thay
đổi không ngừng. Tất cả sẽ hiển bày
khi ta biết lắng nghe và chú ý. Có một bài thơ thật
đẹp của một sư cô trong trường phái Thiền Zen
như sau:
Ðã sáu mươi sáu lần,
đôi mắt này nhìn mùa thu
đến và
đi.
Ánh trăng xưa ta đã tả thật nhiều,
đừng hỏi nữa làm chi.
Hãy lắng nghe tiếng kêu của cây tùng và cây bách,
khi gió ngừng đưa...
Hãy lắng nghe tiếng của cây cỏ khi gió không còn thổi. Một tâm tĩnh
lặng tiêu biểu cho sự quân bình của đạo, giữa
hay yếu tố sáng tạo và tiếp nhận. Nhờ yếu tố sáng tạo mà ta có khả
năng tỉnh thức, thông suốt và tích cực
chú ý. Nhờ yếu tố tiếp nhận mà ta giữ được
một thái độ không phân biệt, không chọn lựa và không phê phán. Tâm
ta lúc ấy rất là cởi mở và êm dịu. Một khi ta có
được một nhận thức tỉnh táo và thông
suốt, đi đôi với một sự tiếp nhận không phân
biệt, tâm ta sẽ ở trong một trạng thái quân bình, hoà hợp hoàn
toàn.
Sự phát triển của ý thức đơn thuần đòi
hỏi sự có mặt của hai tâm hành (mental factor). Tâm hành thứ nhất là tâm
định, tức là khả năng
chú ý vào một đối tượng duy nhất. Tâm
hành thứ hai là chánh niệm, tức là khả năng
biết được những gì đang xảy ra trong
hiện tại, không để tâm chìm trong quên lãng, giữ cho tâm luôn
được vững chãi và tập trung. Một khi
chánh niệm và định lực được phát triển đúng
nức, tâm của ta sẽ trở nên quân bình và sự quán sát sẽ vô cùng sâu
sắc. Ta sẽ nhận chân được nhiều phương diên
khác nhau của con người chúng ta.
Trí tuệ không đến từ một đối tượng hay một
trạng thái tâm thức đặc biệt nào hết. Thiền sư Suzuki có nói về sự
"chẳng có gì là đặc biệt": Trong tâm và
thân ta, trong chân như của sự vật, chẳng có gì là
đặc biệt hết. Việc gì sanh lên thì có
bản tánh tự nhiên là sẽ diệt đi. Chẳng có gì
đặc biệt để ta luyến tiếc. Tất cả chỉ là
một phần của dòng biến chuyển không ngừng. Ðiều quan trọng là sự quân bình
và sáng suốt của tâm. Chúng ta cũng đừng ham
muốn hoặc tìm kiếm những kinh nghiệm khác thường. Mặc dù
đôi khi những hiện tượng siêu nhiên có
thể xảy ra cho ta, nhưng chúng chẳng có gì
đặc biệt, chỉ là thêm đề tài
cho ta quan sát, bởi mọi hiện tượng đều chịu
chi phối bởi luật vô thường. Ðiều mà chúng ta muốn làm là buông bỏ
hết tất cả, không để dính mắc hay đi nhận bất
cứ một trạng thái hay hiện tượng nào là mình. Hãy tự tại về mọi
mặt, đừng để bị ràng buộc, dù bằng một
sợi dây xích bằng vàng, bằng bất cứ chuyện gì xảy ra. Khi nào chúng ta
kinh nghiệm được sự biến chuyển của định luật
vô thường một cách sâu sắc, khi nào chúng ta trực nhận
được rằng con người đang biến đổi trong từng
giây phút, chừng đó ta sẽ có khả năng buông bỏ hết mọi ràng buộc,
dính mắc và hòa hợp với dòng thực tại. Không còn chống cư, không còn nắm
bắt và không còn ôm giữ. Chúng ta trở thành một với
đạo.
Hỏi: Trong cả tiến trình tu tập, có phần nào là linh hồn không?
Ðáp: Phương pháp thiền quán là để phát
triển chánh niệm. Có nghĩa là kinh nghiệm sự việc xảy ra với một
tâm tĩnh lặng, không sử dụng tư tưởng hay khái niệm. Tâm của ta sẽ
đi từ từ mức độ suy nghĩ - ý niệm lên
đến mức độ trực nhận - kinh nghiệm. Mọi sử
dụng ngôn từ sẽ trở thành vô nghĩa, khi so sánh với kinh nghiệm
trực tiếp của chánh niệm. Tôi nghĩ tôi phải nói một
điều gì ở
đây là ta đừng bao giờ mù quáng
tin theo một chuyện gì hết. Một sự hiểu biết sâu sắc sẽ tự
động đến với bạn bằng những kinh nghiệm trong
thiền quán. Dù cho bạn có biết gì về lý thuyết hay không, chuyện
đó hoàn toàn không cần thiết. Có những
thiền sư không bao giờ học, chưa từng đọc một
quyển sách, không phải thông minh lắm, nhưng các ngài biết lắng
nghe lời chỉ dẫn và chịu thực hành. Giáo pháp phô bày trong tâm các ngài.
Các ngài kinh nghiệm được nhiều trình
độ giác ngộ khác nhau, nhưng không thể dùng
văn tự mà diễn tả cho người khác hiểu
được. Ðiều quan trọng là bạn hãy kinh
nghiệm lấy sự thật trong tâm bạn, đừng để
dính mắc vào ý kiến và suy luận.
Hỏi: Mục đích của thiền định là
để làm gì?
Ðáp: Có nhiều cách thiền khác nhau. Một phương pháp cổ truyền là phải
tập trung tư tưởng để phát triển định lực
trước, rồi sau đó mới dùng định lực để
phát sinh trí tuệ. Phương pháp này đòi
hỏi một thời gian lâu, bởi vì thiền định phải
cần có một hoàn cảnh đặc biệt mới có
thể phát triển được một định lực mạnh. Ở Miến Ðiện trong khoảng từ
100 đến 150 năm sau này là sự sống lại
của thiền Minh Sát (Vipassana). Thiền Minh Sát tuệ phát triển
định lực và trí tuệ cùng một lúc.
Phương pháp này gồm có sự chánh niệm và tập trung ý trong từng giây phút
một, đầy đủ để dẫn đến sự giác ngộ.
Hỏi: Trong cuộc đời này chúng ta có
quyền chọn lựa gì không?
Ðáp: Thường thì những gì xảy đến cho ta
trong đời này là do ở nhân chúng ta đã
gieo trong quá khứ. Nghiệp quả thì không tránh
được, nhưng phản ứng, cách đối phó của ta thì
hoàn toàn tùy thuộc ở mình. Ở điểm này
chúng ta có hoàn toàn tự do. Chúng ta có thể có chánh niệm hay không, tùy
ở ta. Không có gì bắt ta phải đối phó với
nghiệp quả bằng một cách này hay cách khác. Tự do nằm ở chỗ ta chọn
phản ứng bằng cách nào với những sự việc xảy
đến trong giây phút hiện tại.
Hỏi: Vấn đề tiềm thức trong tâm lý học Tây
phương liên hệ với thiền quán ra sao?
Ðáp: Khi tâm ta trở nên yên tĩnh và tỉnh thức, những gì nằm sâu dưới
bình diện ý thức, mà ta gọi là tiềm thức, sẽ
được soi sáng bởi ngọn đèn chánh niệm. Lúc
đó ta sẽ thấy được những sự ràng buộc
trong tâm ta từ bấy lâu nay. Sự nhận diện này sẽ
đem chúng lên trên bình diện ý thức và
được quán sát.
Hỏi: Nhưng lúc nào cũng phải giữ chánh niêm trong hiện tại, có làm ta
mất đi sự tự nhiên hay không?
Ðáp: Sống mà không có chánh niệm đâu phải
là sống tự nhiên. Nếu chúng ta phản ứng một cách máy móc, tức là
chúng ta bị cai quản, lệ thuộc vào những chuyện xảy ra chung quanh. Cái
đó đâu phải là tự nhiên,
đó là người máy. Nhận
được một tin gì
đó chúng ta lật đật phản ứng một cách vô ý
thức, không chánh niệm, tâm đó không phải là một tâm tự nhiên mà là
một tâm máy móc. Sự tự nhiên chỉ đến với ta
khi tâm ta yên lặng, khi tâm ta tỉnh thức, nhận biết
được mọi việc rõ ràng trong từng giây
phút. Khi chánh niệm tiến triển, nó sẽ không làm sinh hoạt của bạn bị
đứt đoạn, nó không làm bạn mất tự
nhiên. Trong giai đọan đầu thì ta cần
phải chú ý từng cử động một, đến khi nào
ta đạt được một ý thức đơn thuần rồi thì
mọi sinh hoạt sẽ trôi chảy rất thư thái.
Hỏi: Khi nãy ông có thí dụ về người tập
đánh đàn và người tập thiền. Có nhiều người tập
đàn nhưng không phải ai cũng trở thành
một nhạc sĩ giỏi. Cũng vậy, có phải mặc dù ta tập thiền nhưng không phải
ai cũng sẽ thành công và có chánh niệm có
đúng không?
Ðáp: Sự tiến bộ của mỗi người khác nhau. Có người tiến bộ một cách chậm
chạp và khó nhọc. Có người tuy tiến chậm nhưng rất thoải mái và an lạc.
Một số khác tiến bộ nhanh chóng nhưng khổ cực. Và cũng có người tiến nhanh
chóng với sự an lạc. Sự tiến bộ cũng tùy thuộc vào nghiệp quả của mình,
định lực và chánh niệm của mình
đã khai triển
đến đâu. Nhưng nếu chúng ta đi đúng hướng thì
không chóng cũng chầy ta sẽ đến nơi, điều cần
thiết là hãy cứ bước tới (tức là tinh tấn và cố gắng). Nó có thể là
một năm, sáu mươi năm hay năm kiếp nữa cũng
chẳng sao, miễn là ta đi về phía ánh
sáng là đủ. Chúng ta muốn đi về hướng
giải thoát, tự do, chứ không phải lùi lại mà
đi về bóng tối. Cho nên bất cứ nghiệp
quả của ta ra sao cũng vậy, hãy bắt đầu bằng
những gì ta đang có.
Hỏi: Ông có nói về nhiều kiếp khác nhau. Cái gì sống qua những kiếp
đó, có phải là linh hồn không?
Ðáp: Ðiều này có thể hiểu giống như là những thay
đổi xảy ra trong một đời người. Thí dụ: nếu
bạn không nhớ lại khoảng năm, mười năm trước đây, thân thể của bạn hoàn
toàn khác biệt với bây giờ, nói trên phương diện tế bào cũng vậy. Thân thể
của bạn chuyển hóa, thay đổi. Tâm của bạn
cũng đã biến chuyển, thay đổi vô số
lần hơn thế nữa, sanh ra rồi diệt đi. Bây giờ bạn không thể chỉ bất cứ một
cái gì trong tâm hay thân bạn, và bảo rằng nó cũng giống y như hồi
trước không sai khác. Bởi bạn bây giờ là kết quả, tập hợp của những ràng
buộc, điều kiện trong quá khứ và từng
giây phút nối tiếp nhau sau đó. Nói cách
khác, giây phút này quyết định điều
kiện khởi sanh cho giây phút kế tiếp. Không có gì
được đem qua, nhưng có một mối liên hệ
giữa giây phút này và giây phút kế. Mọi vật chuyển hóa theo một trật tự
liên tục. Trong giờ phút sắp lìa đời, tâm ta
sẽ quyết định điều kiện cho giây phút tái sanh. Không có gì
đi theo qua hết, nhưng giây phút kế tiếp tùy
thuộc vào giây phút trước đó.
-ooOoo-
Buổi sáng thứ n ăm
BÀI THỰC TẬP: TƯ TƯỞNG
Sử dụng tư tưởng như một đề mục chánh niệm
là một điều quan trọng. Nếu chúng ta
không ý thức được tư tưởng của mình khi chúng vừa mới khởi lên, ta
sẽ khó có thể nào hiểu được lý Vô ngã
và thấy được rằng sự suy nghĩ không phải thật
là mình. Sự ngộ nhận này là nền móng căn
bản xây dựng lên cái Ngã, cái Tôi của mình: "Tôi" là người
đang suy nghĩ. Chánh niệm về tư tưởng có
nghĩa là giản dị biết được tư tưởng
khi nó sinh lên, biết được rằng tâm mình
đang suy nghĩ mà không bị dính mắc vào
nội dung của chúng. Chúng ta không nên miệt mài chạy theo sự tưởng tượng,
phân tích coi tư tưởng từ đâu đến. Ta chỉ cần
ý thức được rằng trong giây phút này có một tư tưởng
đang phát khởi. Bạn có thể niệm thầm trong
đầu "suy nghĩ, suy nghĩ" mỗi khi có một tư tưởng nào phát hiện. Bạn
hãy quán sát chúng mà không phê bình, không phản ứng, không cho rằng sự
suy nghĩ đó là chính mình, là của
mình. Sự suy nghĩ cũng chính là người suy nghĩ. Chẳng có ai
đứng phía sau chúng hết. Tư tưởng tự nó suy
nghĩ. Nó đến mà chẳng cần một ai mời. Sau một thời gian thực tập
thiền quán, bạn sẽ thấy rằng khi chúng ta không còn bị dính mắc vào sự suy
nghĩ, tư tưởng sẽ có mặt không lâu. Khi bạn ý thức
được sự có mặt của một tư tưởng, nó sẽ biến
mất và sự chú ý sẽ trở lại với hơi thở. Bạn cũng có thể
đặt tên chính xác hơn cho những tư
tưởng sanh lên, để nhận diện sự khác biệt của
chúng, nếu bạn muốn, thí dụ như "dự định", "tưởng tượng" hay là
"nhớ, nhớ". Cách này có thể giúp cho sự chú ý của bạn
được sâu sắc hơn. Nhưng nếu bạn chỉ niệm "suy
nghĩ, suy nghĩ" thôi cũng đủ rồi. Ðiều quan trọng là phải ý thức
được tư tưởng khi nó vừa mới phát lên,
chứ không phải vài phút sau đó. Khi bạn có
thể nhận diện được sự có mặt của tư tưởng khi chúng vừa mới sanh lên,
chúng sẽ mất đi khả năng chi phối được bạn.
Nhưng bạn đừng bao giờ đối xử với tư tưởng
như là một chướng ngại, kẻ thù của thiền quán. Chúng chỉ là một
đối tượng của chánh niệm, một đề mục của
thiền quán. Ðừng bao giờ để tâm mình
trở thành lười biếng, dễ duôi. Phải biết tinh tấn duy trì chánh niệm, biết
rõ ràng những gì đang xảy ra trong giờ phút
hiện tại.
Thiền sư Suzuki trong quyển Thiền Tâm, Sơ Tâm có viết:
Khi ngồi Thiền, anh đừng cố gắng ngăn
chận sự suy nghĩ của mình. Hãy để tự
nó chấm dứt. Nếu có một tư tưởng nào xuất hiện, hãy
để nó đến rồi để nó đi. Chúng chẳng ở lâu
đâu. Còn khi anh dụng công ngăn chặn
nó, có nghĩa là anh bị nó làm khó chịu. Ðừng bao giờ
để chuyện gì làm cho anh phải bực
mình. Ðiều mà anh tưởng rằng đến từ bên
ngoài, thật ra chính là những đợt sóng
trong tâm anh, và nếu anh không khó chịu vì những
đợt sóng, chúng sẽ dần dần trở nên
yên tĩnh hơn... Những cảm xúc đến, tư
tưởng, hình ảnh phát lên đều là
những đợt sóng trong tâm. Chẳng có gì
là ở ngoài tâm anh đâu... Nếu anh để cho
tâm anh được tự nhiên, nó sẽ trở nên tĩnh lặng. Tâm này ta gọi là
Chân tâm.
Hãy để mọi việc xảy ra một cách tự nhiên.
Hãy để những hình ảnh, tư tưởng, cảm
giác sinh ra và diệt đi mà không khó
chịu, phản ứng, phê phán hay ôm giữ. Trở thành một với chân tâm, quán sát
một cách thật cẩn thận và tinh tế những đợt
sóng đến và đi. Thái độ này sẽ
đem lại cho tâm ta một sự quân bình và
tĩnh lặng vô cùng nhanh chóng. Ðừng bao giờ xao lãng sự tập trung của
mình. Giữ tâm chánh niệm luôn luôn, từng giây phút một, về mọi chuyện
đang xảy ra, dù nó có là sự phồng xẹp
ở bụng, hợi thở ra vào ở mũi, cảm giác hay tư tưởng. Lúc nào cũng giữ
chánh niệm, tập trung nơi đối tượng với một
tâm quân bình và thoải mái.
-ooOoo-
Buổi tối thứ n ăm
KHÁI NIỆM VÀ THỰC TẠI
Trong quyển Republic của Plato có một chuyện ngụ ngôn nổi tiếng về một
hang động. Trong hang động có một hàng
người, họ bị xiềng lại với nhau bằng một cách mà họ chỉ có thể nhìn vào
vách hang bên trong. Họ không thể nào quay lưng lại. Phía sau lưng những
người bị xiềng là một ngọn lửa, và có những hình người nhỏ xếp chung quanh
như là đang sinh hoạt với nhau. Bóng dáng của
những hình người giả này chiếu lên trên vách tường, phía bên trong
hang. Những người bị xiềng chỉ có thể thấy bóng dáng thay
đổi của những hình người giả trên vách
hang, nên họ nhận những bóng hình đó làm
một sự thật tuyệt đối. Cho đến một ngày,
có một người trong bọn họ cắt được sợi dây
xích và có thể quay lại được. Anh ta
thấy được đống lửa và những hình người giả, và hiểu rằng những
điều anh tin xưa nay đều là giả tưởng.
Bóng hình không phải là sự thật mà chỉ là những phản ảnh trên vách. Và có
lẽ sau khi thoát ra được khỏi sự xiềng xích,
anh đi ra khỏi hang và bước đi trong
tự do dưới ánh sáng mặt trời.
Tình trạng của chúng ta cũng giống như những người bị xiềng trong hang.
Bóng người trên vách tượng trưng cho những khái niệm trong cuộc
đời mà ta
đang sống. Chúng ta bị xiềng xích bằng những đam mê, nhìn cuộc
đời qua ý niệm, thành kiến có sẵn
trong ta, và nhận những khái niệm này làm thực tại.
Có nhiều khái niệm mà chúng đã
được khắc sâu trong thâm tâm ta, sâu đến nỗi
ta không còn nghi ngờ gì nữa. Một thí dụ là chúng ta ai cũng có một
khái niệm về nơi chốn, quê hương, quốc gia. Trên trái
đất này không có
đường nào phân chia giữa những quốc
gia hết. Tâm ta tạo ra những đường ranh giới
nhân tạo này. Mỗi khi bạn có dịp đi
ngang qua một biên giới, bạn sẽ thấy con người
đã bỏ ra biết bao nhiêu công sức
để gây dựng cho khái niệm này. Trên
thế giới có biết bao nhiêu vấn đề - chánh
trị, kinh tế - phát xuất từ ý nghĩ "Ðây là quốc gia của tôi, quê
hương của tôi". Nếu hiểu được rằng mọi khái
niệm chỉ là kết quả của tư tưởng, ta sẽ có khả năng
tự do ra khỏi những ràng buộc.
Lúc còn ở Ấn Ðộ, có một cô bạn Hy Lạp kể cho tôi nghe một câu chuyện
thí dụ về khái niệm nơi chốn của ta như sau. Cô ta tả lại một biên giới
giữa hai quốc gia nằm trên một vùng sa mạc. Giữa một vùng
đất cát mênh mông, có một chiếc cầu
sắt bắt ngang qua một lòng sông cạn khô. Chiếc cầu sắt
được sơn nửa xanh, nửa đó. Lòng sông
khô cằn là biên giới của hai nước. Chung quanh chẳng có gì ngoài cát nóng
và một chiếc cầu sắt hai màu. Chính giữa cầu có một cái cổng bằng sắt,
được khóa từ hai bên. Khi có người nào
muốn đi từ một "quốc gia" này sang
phía bên kia, người gác bên đây sẽ gọi người
gác bên kia, cả hai đi đến cánh cổng và
mở khóa cùng một lúc. Thế là ta đi ngang qua
biên giới, sang một quốc gia khác.
Khái niệm về thời gian cũng đã in
rất sâu vào tâm khảm ta, những ý niệm vế quá khứ, tương lai. Cái mà chúng
ta gọi thời gian, thật sự là gì? Trong giờ phút hiện tai ta có một vài tư
tưởng như là kỷ niệm, hồi tưởng. Chúng ta góp những tư tưởng này lại thành
một nhóm và gọi chúng là quá khứ, và cho rằng chúng
đã xảy ra ở một thời
điểm xa xôi nào
đó, không có thật trong hiện tại. Cũng vậy,
ta chìm đắm trong những dự định, mơ
mộng và dán cho chúng nhản hiệu thuộc về "tương lai", có nghĩa là
chúng chỉ có thật trong một thực tại chưa xảy ra. Ít khi ta hiểu
được rằng, thật ra "quá khứ" và "tương
lai" chỉ là những gì đang xảy ra trong hiện
tại. Tất cả những kinh nghiệm đó chỉ là một sự thật của hiện tại.
Quá khứ và tương lai là hai khái niệm mà chúng ta
đặt ra với một mục đích. Nhưng nếu đi nhận
khái niệm làm một sự thật, quên rằng chúng chỉ là sản phẩm của một
tư tưởng, ta sẽ khổ đau vì những sự lo
lắng, hối tiếc về quá khứ và những mong chờ, hy vọng cho một thực tại chưa
đến. Khi nào ta có thể sống vững vàng
trong giây phút bây giờ, hiểu rằng quá khứ và tương lai chỉ là những tư
tưởng trong hiện tại, ta sẽ có khả năng tháo
gở được sợi dây xích của "thời gian".
Một khái niệm quan trọng khác mà chúng ta thường dùng
đến là khái niệm về nam và nữ. Khi bạn
nhắm mắt lại chú ý đến hơi thở, cảm giác, âm
thanh, tư tưởng của mình - "nam" và "nữ" ở chỗ nào nếu không chỉ là
một khái niệm. Khái niệm về nam và nữ sẽ ngừng hiện hữu khi tâm ta yên
lặng. Những làn sóng tưởng tượng nổi lên từ nước, rồi chúng tự phê bình
lẫn nhau là cao, thấp, đẹp, xấu. Nói theo lẽ
tương đối thì cũng đúng một phần nào,
nhưng chúng quên rằng mọi làn sóng đều có
chung một bản chất là nước biển. Cũng vậy, một khi ta bị dính mắc
vào một khái niệm về hình dáng, hình thể, tâm ta sẽ khởi sanh những sự so
sánh, phê phán, phân loại. Sự phân biệt này sẽ làm cho sự chia cách giả
tưởng, giữa ta và chung quanh, càng kiên cố thêm lên. Qua sự tu tập thiền
quán ta sẽ dần dà từ bỏ những ràng buộc của khái niệm và kinh nghiệm
được những yếu tố căn bản tạo dựng nên
con người của chúng ta.
Nhưng có lẽ khái niệm ảnh hưởng ta sâu đậm
nhất, khái niệm có khả năng xiềng xích ta trong hang động, giữ ta lại
trong vòng sanh tử luân hồi, là khái niệm về một cái Ngã, cái Tôi.
Ý niệm rằng phải có một người nào đó đứng
phía sau mọi hành động, mọi ý nghĩ,
một cá nhân có thật, trường cửu, là bản thể của con người chúng ta.
Ngã, tôi, của tôi thật ra chỉ là những ý niệm, khởi lên khi ta cố
đi tìm một
định nghĩa cho sự liên hệ giữa thân và
tâm. Thuở ban đầu thì trong ta chưa ai
có cái "Ngã", nhưng bởi vì chúng ta bị dính mắc vào ý niệm này một cách
quá sâu đậm, chúng ta bỏ hết công sức ra để
bảo vệ, phô trương và phục vụ cho cái tôi tưởng tượng này. Thiền
quán sẽ giúp ta thấy được cái Ngã chỉ
là một khái niệm, nó không có một tự thể nào, chỉ là một ý niệm
được phóng đại lên trong giây phút
hiện tại.
Ðó là những khái niệm hằng trói buộc ta - khái niệm về nơi chốn, thời
gian, sở hữu, nam nữ và cái Tôi. Bạn có thể thấy sức mạnh của những khái
niệm này. Cả cuộc đời của ta bị chúng chi
phối. Kalu Rinpoche, một vị thiền sư Tây Tạng nổi tiếng có viết:
Anh đang sống trong một thế giới của ảo
tưởng, với những hình dáng bên ngoài của sự vật. Nhưng có một thực
tại, Anh chính là thực tại đó. Hiểu được điều
này,anh sẽ thấy rằng anh chẳng là gì cả. Và cũng nhờ bởi vì không
là gì cả, mà anh lại là tất cả. Chỉ có vậy thôi.
Có bốn pháp quan trọng được gọi là
bốn thực tại tuyệt đối (ultimate realty). Ta
gọi như thế bởi vì chúng có thể kinh nghiệm
được chứ không phải chỉ là ý niệm. Bốn
thực tại tuyệt đối này chứa
đựng hết trọn vẹn mọi kinh nghiệm của chúng
ta.
1.- Thực tại tuyệt đối đầu tiên là
Sắc tức tứ đại. Tứ
đại là bốn yếu tố vật chất căn
bản cấu tạo nên mọi vật trong vũ trụ:
đất, nước, gió và lửa. Trong thiền quán, ta sẽ kinh nghiệm
được sự hiện diện của tứ đại trong thân.
a. Yếu tố đầu tiên là
đất. Ðất là một yếu tố thuộc về tính
chất nới rộng. Ta kinh nghiệm được yếu tố này
qua tính chất: cứng, mềm, nặng, nhẹ của sự vật. Khi ta cảm thấy
đau trong thân, nó thuộc về yếu tố đất. Khi
ta đi, chân chạm mặt đất, cảm giác đụng chạm, dính liền cũng thuộc về
yếu tố đất - tất cả mọi cảm giác cứng, mền hay nới rộng.
b. Yếu tố lửa là những tính chất nóng, lạnh. Ðôi khi trong những lúc
ngồi thiền yếu tố lửa có thể trở nên thắng thế, bạn sẽ cảm thấy như bị
lửa đốt. Thật ra thì chẳng có "ai"
bị đốt cả, chỉ có yếu tố lửa đang phát hiện
cái tánh tự nhiên của nó, tức cảm giác nóng, lạnh.
c. Yếu tố gió tức là sự chuyển động.
Trong lúc đi kinh hành, cái mà ta kinh nghiệm
được chỉ là một trò chơi của những
yếu tố. Bàn chân và chân chỉ là một ý niệm, một tên gọi mà chúng ta
đặt cho nhận thức về một kinh nghiệm. Thật
ra thì chẳng có bàn chân, thân hay là cái tôi, chỉ có kinh nghiệm
về những động tác và cảm giác
đụng chạm mà thôi.
d. Yếu tố nước tiêu biểu cho tính chất lưu loát và kết hợp. Yếu tố
này có trách nhiệm giữ cho những sự vật
được liền lại với nhau. Cũng như khi bạn cầm đến bột khô, chúng rời rạc,
lả tả ra. Nhưng khi bạn chế vào một chút nước, chúng sẽ lập tức
dính lại với nhau. Yếu tố nước rất quan trọng, bởi nó có nhiệm vụ giữ
tất cả những yếu tố vật chất khác lại với nhau.
Cùng với tứ đại, chúng ta có thêm
bốn tính chất phụ thuộc nữa là : màu sắc, mùi, vị và bổ dưỡng. Cả thế giới
vật chất chung quanh ta, có thể được kinh
nghiệm qua những yếu tố vừa kể. Chúng ta có thể nhận thức được chúng, mà
không cần phải dùng đến tư tưởng. Sàn
nhà không có thật. Sàn nhà chỉ là một ý niệm, một tên gọi. Cái mà ta kinh
nghiệm được là cảm giác cứng, lạnh
hoặc màu sắc khi ta nhìn đến nó. Mắt ta nhìn
thấy màu sắc. Mắt ta không nhìn thấy một tên gọi. Khi chúng ta bước ra
ngoài sân, đa số thấy "cây cỏ", nhưng đó chỉ
là một ý niệm về những đối tượng mà
ta nhìn thấy. Cái mà ta thật sự thấy là hình dáng và màu sắc. Rồi tâm ta
dán cho nó một nhản hiệu là "cây cỏ". "Thân" cũng chỉ là một ý niệm. Khi
ta ngồi thiền, thân biến mất. Lúc ấy ta chỉ kinh nghiệm những cảm giác
nóng, lạnh, đau, nhức, những hoạt động của
các yếu tố, biến chuyển không ngừng, trong sự vô thường. Sự tu tập thiền
quán có khả năng giúp ta ý thức được sự vật trên một bình diện kinh
nghiệm trực tiếp chứ không bằng ý niệm qua tư tưởng. Cho nên khi ta nhìn
một vật gì, ta sẽ ý thức được màu sắc,
hình dạng của chúng. Khi ta đụng chạm một vật
gì, ta sẽ trực tiếp cảm giác về nó mà không bị dính mắc vào ý niệm,
hay là để những thành kiến của mình
xem vào sự nhận xét.
Nghĩ cũng lạ, ý niệm thì lúc nào cũng giữ y nguyên mà thực tại thì luôn
luôn thay đổi. Ý nghĩa của chữ "thân" thì
bao giờ cũng vậy, nhưng chính thân ta thì mỗi phút một
đổi khác. Những khái niệm về cứng nhắc không
thay đổi. Nhưng đến khi ta kinh nghiệm những việc xảy ra chung quanh, ta
sẽ nhận thấy được sự biến chuyển cùng tính chất vô thưòng của mọi
vật,sự sanh diệt của mọi cảm giác. Kinh nghiệm
được mọi sự trong chánh niệm, sẽ làm
lộ chân tướng vô thường của chúng. Còn khi chúng ta còn mê mờ trong vòng ý
niệm, ta sẽ bị dính mắc trong một ảo tưởng, cho rằng mọi vật là lâu bền,
thường hằng. Chính sự dính mắc này đang trói
buộc ta trong vòng sanh tử luân hồi.
Bước đầu của sự tu tập thiền quán, phát
triển trí tuệ là kinh nghiệm được hiện
thực, chứ không phải chỉ là bóng dáng của nó. Ðược như vậy tự thể
của mọi vật sẽ tự nhiên hiện rõ ra trước mắt.
2.- Thực tại tuyệt đối thứ hai là
Tâm. Tâm tức là khả năng hiểu biết, ý
thức của mình về một đối tượng nào
đó. Ðôi khi, có người cho rằng trong
ta có một tâm thức duy nhất, hiện diện từ lúc sanh cho
đến khi chết. Tâm thức này
được ví như là một quan sát viên, anh
ta biết hết mọi chuyện xảy ra trong cuộc đời
chúng ta. Và rồi ý niệm này dẫn tới cái chấp về một cái Ngã, cái
Tôi bất biến, thường hằng trong mỗi người chúng ta. Ðó cũng bởi vì tâm ta
không tĩnh lặng đủ để quan sát tiến trình
của sự hiểu biết. Tâm thức của ta sanh lên rồi diệt
đi trong mỗi giây phút. Không có một tâm thức
duy nhất nào hiện diện từ đầu cho đến
cuối, mỗi phút có một tâm thức mới sinh lên rồi diệt
đi. Cái thức dùng
để nghe (nhĩ thức) khác với cái thức dùng
để thấy (nhãn thức), hay
để ngửi (tỷ thức), hay để nếm (thiệt thức),
hay để suy nghĩ (ý thức). Mỗi giây phút có một tâm thức khác nhau thống
trị. Sau một thời gian tu tập, khi nào tâm ta tĩnh lặng, ta sẽ có
thể kinh nghiệm được tiến trình này
của tâm. Dùng trí tuệ soi sáng dòng biến chuyển và vô thường của tâm thức,
ta sẽ thấy được trong ta không có một cá nhân
hay một quan sát viên nào cả, chỉ là một diễn biến liên tục thay
đổi trong từng giây phút. Ðến giai
đoạn này, ta sẽ phá vỡ
được ảo vọng về một cái tôi thường hằng có
thật.
3.- Thực tại tuyệt đối thứ ba là
Tâm hành hay Tâm sở (mental factor). Tâm hành là tính chất của tâm
quyết định một phương thức để đối phó với các
đối tượng. Mỗi khi trong ta có một tâm thức nào khởi lên, là có
nhiều tâm hành khác nhau cùng phát sanh theo trong lúc ấy, và chúng cũng
diệt theo khi tâm thức ấy chấm dứt. Tham, sân, si là ba tâm hành căn
bản, là gốc rể những khổ đau của chúng
ta. Mọi hành động xấu đều được xúi dục
bởi một trong ba tâm hành này. Lấy một thí dụ, tâm tham có
đặc tính là bám víu vào một
đối tượng. Khi tâm tham nổi lên trong
ta, nó có khả năng khiến cho ta trở nên
muốn chiếm hữu, gom góp, bám víu, đeo đuổi vào
bất cứ chuyện gì ta đang làm. Ðó chỉ
là tính cách tự nhiên của tâm tham. Không có người tham, không có cái Ngã,
cái Tôi nào đứng phía sau hết, tất cả chỉ là
kết quả cho một tâm hành đang làm
việc.
Sân cũng là một tâm hành có đặc tính tự
nhiên là thù ghét, chối bỏ đối tượng.
Lòng ghen tức, bực mình, giận dữ, bất an, chối bỏ
đều là những trạng thái của tâm sân.
Lòng sân cũng không phải thật là ta hay của ta, nó chỉ là một tâm hành
sanh lên rồi diệt đi.
Si là một tâm hành có khả năng làm
mờ mịt nhận thức, khiến ta không thể thấy rõ
được đối tượng. Ta không ý thức được những gì
đang xảy ra trong giờ phút hiện tại.
Ngược lại ta cũng có ba tâm hành có khả năng
đem lại hạnh phúc là tâm xả, tâm từ và trí tuệ. Tâm xả có tính chất
tự nhiện là rộng lượng, không hối tiếc, không thu giữ. Tâm từ là lòng
thương yêu người khác, tình bằng hữu. Trí tuệ là tâm tỉnh thức có khả năng
nhìn rõ mọi sự vật. Nó được ví như một
ngọn đèn sáng trong tâm. Khi bạn đi vào
một căn phòng tối, bạn không nhìn thấy
được những vật chung quanh, nên thường
bị vấp ngả. Khi bật đèn lên, mọi vật
sẽ trở nên sáng tỏ và phân biệt rõ ràng. Ðấy là nhiệm vụ của trí tuệ soi
sáng tâm, để ta có thể nhận diện được rõ
ràng cả nội dung lẫn tiến trình của thân và tâm.
Tất cả những tâm hành vừa kể, đều có chung
hai đặc tính là vô ngã và vô thường. Không có một cá nhân nào tham
lam, không có một người nào sân hận,cũng không có một ai là trí tuệ hay từ
bi. Chỉ có một hiện tượng tâm thức sanh lên, kéo theo nó một số tâm hành
và làm việc theo nhiệm vụ của nó. Như vậy thì ý niệm về một cái "Tôi" phát
xuất từ đâu? Tại sao chúng ta lại bị chi phối
bởi cái "Tôi" này nhiều đến thế?
Trong số những tâm hành có một tâm hành gọi là tà kiến. Nhiệm vụ của tà
kiến là nhận những yếu tố thay đổi không
ngừng của thân và tâm này là mình. Bởi thế cho nên, khi có một tâm
thức nào khởi lên và kéo theo tâm hành tà kiến này, ý niệm về một cái
"Tôi" sẽ phát sinh. Nhưng cũng giống như mọi tâm hành khác, nó vô ngã và
vô thường, sinh lên rồi diệt đi. Một khi ta
có chánh niệm trong giờ phút hiện tại, tà kiến sẽ không thể sinh
lên và ta có khả năng thoát ra khỏi ự trói
buộc của những khái niệm về "Tôi, của tôi". Mỗi giây phút chánh niệm là
một giây phút vô ngã và chân thật.
Một câu hỏi mà ta thường đặt ra trong
những khóa tu như vầy là: "Như vậy ai là người
đang giữ chánh niệm?" Thật ra thì
chánh niệm cũng là một tâm hành. Nhiệm vụ của nó là nhận diện
đối tượng và ý thức
được giây phút hiện tại. Gurdjieff gọi tính
chất này là tự niệm (self-remembering). Không có một cá nhân nào
giữ chánh niệm hết, chỉ có sự làm việc của một tâm hành có nhiệm vụ nhận
diện đối tượng mà không dính mắc, ghét
bỏ hay ưa thích. Một khi chánh niệm được khai
triển, ta sẽ thấy rằng mọi hiện tượng đều chuyển tiếp và không có
một cái tôi nào trong đó hết.
Chúng ta như là một trò chơi ráp hình vĩ
đại, gồm những miếng hình nhỏ rời rạc mà ta phải sắp xếp lại cho
thứ tự, thành một tấm hình lớn có ý nghĩa. Những miếng hình nhỏ rời rạc ấy
là tứ đại, tâm và tâm hành. Khi sắp
xếp những yếu tố ấy lại với nhau theo một thứ tự nào
đó, ta sẽ có được một người "đàn ông",
"đàn bà", "cây", "nhà". Nhưng
đó chỉ là một tấm hình lớn làm thành
bởi những miếng nhỏ hơn, một khái niệm mà thôi. Chính những nguyên tố căn
bản của thân và tâm, những năng lượng
đứng phía sau biến đổi chuyển hóa, mới chính là hiện thật kinh
nghiệm của ta.
4.- Thực tại tuyệt đối thứ tư là
Niết bàn. Niết bàn là kinh nghiệm của một người
đã hoàn toàn giải thoát ra khỏi mọi
xiềng xích, bước ra khỏi hang tối và sống tự tại dưới ánh mặt trời. Một
người đã giải thoát ra khỏi mọi sự
trói buộc của thân và tâm.
Tất cả những thực tại tuyệt đối vừa kể,
đều có thể kinh nghiệm được. Những văn tự mà ta dùng
để diễn tả chúng chỉ là ngón tay dùng
để chỉ mặt trăng. Kinh nghiệm của thiền quán
sẽ giúp ta kinh nghiệm được những hiện thực này,
điều ấy hoàn toàn thoát ra khỏi ngoài
văn tự. Chúng ta ai cũng đang ở trên
một tiến trình phá tung những xiềng xích, kềm giữ ta trong một hang tối si
mê. Trong sự tu tập sẽ có những lúc bạn cảm thấy hình như không có một
việc gì xảy ra hết, có chăng chỉ là
những đau đớn, khó chịu, bực dọc và
nghi ngờ. Nhưng thật ra mỗi giây ohút chánh niệm, mỗi giây phút tỉnh thức
của bạn, đang làm yếu
đi sợi dây xích trói buộc. Chúng ta đang dần
dà tích tụ một năng lực tỉnh thức, đến
khi chánh niệm và định lực khai triển,
tâm ta sẽ trở nên vô cùng vững mạnh và sáng suốt. Chỉ cần kiên
nhẫn, thật kiên nhẫn. Rồi chúng ta sẽ kinh nghiệm
được thế nào là tiến trình của thân
tâm, kinh nghiệm thoát ra ngoài mọi khái niệm, không còn bị vướng mắc vào
một cái "Tôi" nào hết, bước ra khỏi hang tối, tự tại dưới ánh mặt trời của
tự do và an lạc.
Hỏi: Xin cho biết ta đã
đi từ một thực tại tuyệt đối đến sự suy nghĩ
bằng những khái niệm qua cách nào? Làm sao mà ta lại có thể
đi xa một sự thực giản dị như vậy?
Ðáp: Bạn đừng nghĩ sự việc xảy ra giản dị
như là chúng ta đã rơi từ một
trạng thái sáng suốt vào một trạng thái mê mờ. Không phải như vậy. Tâm
tham đắm và si mê là hai nguyên nhân
chánh giữ chúng ta trong vòng sanh tử từ vô thủy
đến giờ, chúng là
động lực kéo ta xoay vòng theo bánh xe
luân hồi. Tìm hiểu lý do không ích lợi gì cho bản thân ta cả. Chúng ta
phải chấp nhận rằng, hiện trạng bây giờ của mình mới chính là vấn
đề quan trọng trước mắt, cần phải được giải
quyết. Có một con đường để giải thoát là diệt tâm sân và si. Con
đường ấy là con
đường chánh niệm, tỉnh thức, biết chú ý đến
mọi việc đang xảy ra trên mnột bình diện kinh nghiệm thuần túy.
Hỏi: Làm sao ta có thể sống trong cuộc đời
mà không cần đến khái niệm được?
Ðáp: Xin bạn đừng hiểu lầm điều này,
chúng ta phải biết dùng đến khái niệm. Nhưng
điều tôi muốn nói là một khi ta kinh nghiệm chuyện gì vượt ra ngoài
khái niệm của mình, là ta không thể chấp nhận
được. Chúng ta phải biết sử dụng những tiến trình trong tâm thức
của mình, để đối phó với thế giới bên
ngoài, với cuộc đời của mình sao cho
hữu hiệu. Chân lý hay sự thật có hai bình diện: một là sự thật ước
định có nghĩa là những sự thật
được diễn tả bằng khái niệm như là
nam, nữ, thời gian, không gian, tôi, anh. Bình diện thứ hai là sự thật
tuyệt đối bao gồm bốn thức tại mà ta
đã nói
đến. Chúng ta dùng khái niệm, nhưng
đừng nô lệ chúng. Chúng ta phải nhớ rằng chúng chỉ là nhựng sự thật
ước định, và
đứng phía sau nó mới thật là chân lý.
Ở Bồ Ðề Ðạo Tràng, nơi chúng tôi tu học, có một con voi. Những khi chúng
tôi đi xuống chợ, chúng tôi thường gặp con
voi này thong thả đi ngược lại về phía
mình. Chúng tôi đi thiền hành
trong chánh niệm, chậm chạp, chú ý đến từng
mỗi bước chân. Khi thấy con voi đi ngược lại, chúng tôi không chỉ đứng im
đấy mà niệm "thấy, thấy", chúng tôi tránh sang chỗ khác. Sử dụng
tiến trình tư tưởng của mình phải đúng chỗ.
Hỏi: Cảm xúc là gì?
Ðáp: Cảm xúc là những tâm hành khác nhau. Ghen, giận, thương yêu, vui,
buồn đều là những tâm hành. Tất cả mọi
cảm xúc đều có tính cách vô ngã. Không
có ai đứng sau chúng hết. Không có người nào
giận, không có ai đang thương yêu -
chỉ là sự chuyển vận của những tâm hành, theo mỗi cách khác nhau.
Hỏi: Những điều kiện nào làm phát
sinh chánh niệm?
Ðáp: Trí tuệ, hay là nhận thức được sự
thật về hiện trạng của mình và thấy
đợc con đường giải thoát. Sự tinh tấn, cố gắng là
điều kiện phát sinh chánh niệm. Niềm tin và
sự tự tin cũng là điều kiện phát sinh ra sự
cố gắng, tinh tấn tu tập chánh niệm.
Hỏi: Xin ông nói thêm về tình thương yêu?
Ðáp: Cái"không" diễn tả được tình
yêu, bởi vì trống không có nghĩa là vô ngã. Khi không có tôi thì sẽ không
có người khác. Sự phân biệt nhị nguyên này
được tạo nên bởi ý niệm về cái ngã, cái tôi. Khi không còn cái tôi
thì tất cả trở thành một, đồng nhất. Và
khi ta không còn nghĩ rằng: "tôi đang thường
một người khác", tình thương sẽ trở thành một diễn tả tự nhiên cho
sự đồng nhất đó.
Hỏi: Khi tôi có chánh niệm về chính tâm thức của mình, cái gì có chánh
niệm?
Ðáp: Chánh niệm là một tâm hành có nhiệm vụ ghi nhớ
đối tượng, không để cho tâm rơi vào sự
quên lãng. Chánh niệm có thể được dùng
để nhận diện một đối tượng hay là quay
lại nhận diện lấy chính nó, chủ thể của đối
tượng, hay nói cách khác chính sự nhận biết đó. Nói chung thì quan
sát một đối tượng vẫn dễ dàng cho ta
hơn, bởi vì ít nhất ta còn có thể đụng chạm
nó được. Ðến khi tâm ta thật tĩnh lặng, ta sẽ có khả năng
quan sát được chính sự sinh diệt của tâm thức mình. Lúc này, mọi
kinh nghiệm sẽ trở nên rất là ngộ nghỉnh, bởi vì ta
đã phá vỡ
được sự đồng hóa mình với nhận thức, với sự hiểu biết, với cái tôi,
một cái ngã chấp rất là sâu kín. Nếu chúng ta ngồi lại quan sát tiến trình
của một hiện tượng, nhưng vẫn nghĩ rằng trong ta có một quan sát viên làm
chuyện đó, thì
điều ấy không khó khăn gì. Nhưng thật
ra không có ai làm chuyện quan sát cả. Chỉ có nhận thức phát sinh lên, rồi
diệt đi trong mỗi giây phút. Sự nhận thức hay
tâm thức ấy cũng chỉ là một tiến trình. Nó vô thường, vô ngã, không
có cái tôi nào hết.
Hỏi: Trí nhớ là gì? Nó hoạt động ra sao?
Ðáp: Trí nhớ là một hoạt động rất phức tạp
của một số tâm hành thuộc về khái niệm. Khái niệm là một tâm hành
có nhiệm vụ nhận định, phân biệt được những
đức tính riêng biệt của một đối tượng.
Nhờ khái niệm mà ta có khả năng nhận
định được một đối tượng bằng những kinh nghiệm trong quá khứ. Trí nhớ là
một nhóm tư tởng nhận định một đối tượng, đã
xảy ra trong quá khứ.
Hỏi: Vì đâu mà mỗi người có một
khuynh hướng hành động khác nhau?
Ðáp: Nếu ta tiếp tục hành động theo một ý
chí nào đó của mình hoài, sau
một thời gian nó sẽ tạo nên một khuynh hướng. Ngay bây giờ chúng ta
đang củng cố chánh niệm, định lực và
trí tuệ, tức là chúng ta đang tạo một khuynh
hướng tiến về sự hiểu biết và trí tuệ. Cũng vậy trong quá khứ, ta
đã lập đi
lập lại một số hành động, ý muốn nào
đó, chúng dần dà tạo nên những tánh
tình khác nhau trong mỗi chúng ta. Từ đó,
chúng ta mỗi người có một khuynh hướng làm một số việc khác nhau.
Tánh tình của ta là di sản của những khuynh hướng này. Nhưng tánh tình
không phải là một khuynh hướng nào duy nhất, mặc dù có thể là một tâm hành
nào đó đang chi phối ta trong lúc ấy. Một
người nào tham muốn, có nghĩa là tiếp tục
đeo đuổi, bám víu, dính mắc vào
đối tượng trong thất niệm, sẽ bị tâm hành
tham lam chi phối. Rồi dần dà sự tham lam ấy sẽ hiển lộ ra trong hành
động của anh ta. Ngược lại, khi ta tập tánh
xả bỏ và từ bi, dần dà những tâm hành này sẽ trở nên vững mạnh và
chúng sẽ biểu lộ ra trong tánh tình của ta.
Hỏi: Còn ý chí thì ở đâu?
Ðáp: Sự chọn lựa là một tâm hành khác nữa. Những tâm hành
đều có liên hê với nhau một cách vô
cừng phức tạp. Trong đó có sự lựa chọn, tiến
trình quyết định, sự cố gắng. Mỗi tâm
hành đều có một nhiệm vụ và
đặc tính đặc biệt. Một trong những nguyên
nhân gần nhất cho việc thiết lập chánh niệm là
được nghe giáo pháp của đức Phật. Nó trở thành
một nguyên nhân khơi dậy tâm hành tinh tấn. Ðức Phật thường nhắc nhở về
những lợi ích lớn lao cho những ai được nghe
giáo pháp của ngài. Chúng sẽ khơi dậy trong ta sự cố gắng tu tập
phát triển chánh niệm. Mọi tâm hành, kể cả "ý chí",
đều có sẵn tiềm ẩn trong tâm chúng ta. Chúng
ta không cần phải làm gì để tạo dựng
chúng. Vấn đề là ta muốn trau dồi, đào
luyện tam hành nào. Những quyết định chánh
đáng có được là nhò học hỏi nơi giáo lý, hiểu
được sự thật. Ðiều này là
động lực thúc đẩy ta tu tập theo con đường
chánh niệm và tỉnh thức, phát triển trí tuệ và hiểu biết. Trong
kinh Pháp Cú (Dhammapada) có nói: Có hành
động nhưng không có người hành, việc làm hoàn tất nhưng không có ai
thực hiện, có khổ đau nhưng không người thọ
khổ, có giải thoát mà chẳng thấy bậc giác ngộ nào"
Hỏi: Trí thông minh là gì?
Ðáp: Thông minh là một khái niệm về tư tưởng trên bình diện tâm thức.
Ta có thể đào luyện, phát triển và sử
dụng nó. Nhưng nó cũng có thể là một trở ngại. Tất cả
đều tùy theo ta có một khả năng
hiểu được tiến trình của tư tưởng đến
mức nào. Nếu chúng ta hiểu được đặc
tính của nó, nó sẽ không là một chướng ngại. Nhưng nếu chúng ta
đi nhận lầm ý nghĩ về sự vật, với lại chính
sự vật, nó sẽ trở thành một chướng ngại, bởivì ta
đã lầm lẫn giữa khái niệm và thực tại.
Nhưng sự thông minh, tự nó cũng chỉ là một phần nhỏ của tiến trình tâm
thân. Ngài tổ thiền sư đời thứ ba, Tăng
Xáng,có viết: "Ðừng có mãy may một tâm ghét bỏ nào, cho dù
đối với cảm giác hay tư tưởng. Thật ra, chính
ở sự hoàn toàn chấp nhận, mới chính là con
đường giác ngộ chân chánh".
-ooOoo-
Ðầu trang | Mục lục | 01|
02 | 03 |
04 | 05 |
|