BuddhaSasana Home Page Phật Pháp Giảng
Giải Nguyên tác: "Essential
Themes of Buddhist Lectures", CHƯƠNG IV NHỮNG BÀI
GIẢNG ÐẶC BIỆT LIÊN QUAN ÐẾN TUỆ (PANNÀ) Bài 26:
TRIẾT HỌC VI DIỆU PHÁP Từ Pàli
Abhidhamma bao gồm hai phần: Abhi nghĩa là vi tế hoặc thâm
diệu, và dhamma nghĩa là sự thực hay chân lý. Vì vậy Abhidhamma là
sự thực hay giáo lý vi diệu. Toàn bộ lời dạy của Ðức Phật có thể cô đọng
lại trong một từ: Dhamma, hình thức Sanskrit là Dharma. Trong ngôn ngữ
pàli, ngôn ngữ mà Ðức Phật dùng để thuyết giảng, hình thức Dharma được làm
dịu là Dhamma. Dhamma ở đây là sự thực, cái thực sự là. Bởi vì nó có thể
làm cho người ta hiểu rõ sự thực nên giáo lý cũng được gọi là Dhamma
(sự thực). Giáo lý hay toàn bộ lời dạy của Ngài gọi
là Dhamma, Pháp bao gồm ba phương diện: Pháp học (Pariyatti), pháp
hành (Patipatti) và pháp thành hay sự chứng ngộ (Pativedha).
Pháp học được lưu giữ trong kinh điển gọi là Tam Tạng (Ti - pitakas)
hay còn gọi là ba giỏ kinh. Tam Tạng này đã được các nhà phiên dịch
người Anh đánh giá là gấp 11 lần cỡ thánh kinh Thiên Chúa (Christian
Bible). Tam Tạng kinh chứa đựng những lời dạy của Ðức Phật gồm ba
phần, đó là: Tạng Luật (Vinaya Pitaka), Tạng Kinh (Sutta Pitaka)
và Tạng Diệu Pháp hay những điều vi diệu (Abhidhamma Pitaka). Tạng Luật (Vinaya Pitaka) chủ yếu
bàn về những giới luật và nguyên tắc điều hành Tăng đoàn, nó cũng đưa ra
lời giải thích chi tiết về cuộc đời và sứ mệnh của Ðức Phật, cũng như sự
phát triển của Tăng đoàn. Tạng Luật phân ra làm 5 quyển. Tạng Kinh chứa
đựng những bài giảng do Ðức Phật thuyết cho cá nhân hoặc hội chúng tuỳ
theo căn cơ, nơi chốn và thời điểm khác nhau, Tạng Kinh được chia thành 26
quyển. Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma Pitaka) bao gồm bốn pháp cùng
tột: Tâm (citta), Tâm Sở (Cetasika), sắc pháp (Rùpa)
và Niết Bàn (Nibbàna). Có thể nói đây là Tạng quan trọng nhất và lý
thú nhất đối với một người có tư duy sâu sắc, Tạng này được phân thành 7
quyển. Khác biệt chính giữa Kinh và Vi Diệu Pháp
là: trong Tạng Kinh giáo lý được Ðức Phật trình bày bằng những ngôn từ có
tính quy ước và giản dị, nhưng trong Tạng Diệu Pháp mọi thứ được phân tích
và giải thích bằng những thuật ngữ thuần tuý triết học theo đúng nghĩa
tuyệt đối. Như vậy, trong kinh (Sutta), đá gọi là
"đá",
thú gọi là "thú" và người gọi là "người". Tuy nhiên, trong
Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), thực chất của các hiện tượng tâm - sinh
- vật lý được miêu tả và làm cho sáng tỏ. Vi Diệu Pháp là một triết học phần lớn bàn
về những nguyên nhân phổ quát nhất, cũng như những nguyên tắc vận hành của
các pháp. Vi diệu pháp cũng còn là một hệ thống luân lý. Bởi vì nó có thể
giúp con người chứng đắc mục tiêu cuối cùng là Niết Bàn, và vì Vi Diệu
Pháp thường đề cập đến sự vận hành của tâm, tư duy, tiến trình tư duy và
tâm sở, nên nó cũng được coi là một hệ thống tâm lý học. Vì vậy,
Abhidhamma thường được dịch là Tâm Luân Lý Triết Học Phật Giáo. Những bài pháp trong Tạng Kinh thường được
giảng giải hợp theo căn tánh của từng người, do vậy nó khá giống như những
toa thuốc (trị bệnh). Trong Tạng Diệu Pháp, tất cả những bài pháp
này được giải thích và phân tích một cách rất hệ thống trên quan điểm
triết học, tâm lý học, sinh lý học. Như vậy, có thể nói Vi Diệu Pháp là
nền tảng cơ bản của tất cả lời dạy của Ðức Phật. Vì thế cho nên có một tri
kiến hiểu biết về Vi Diệu Pháp là điều thiết yếu để thấu triệt giáo pháp.
Vi Diệu Pháp được các nhà nghiên cứu triết
học Phật giáo có tư duy sâu sắc đánh giá rất cao, nhưng đối với những nhà
học Phật bình thường thì đây quả là môn học buồn tẻ và vô nghĩa. Lý do
chính của điều đó là những phân tích trong Vi Diệu Pháp đã cực kỳ vi tế mà
việc luận bàn lại nặng tính chất kỹ thuật đến độ rất khó hiểu nếu không có
sự hướng dẫn của một bậc thầy có khả năng.
Tâm là một trong bốn thực tại cùng tột mà
Vi Diệu Pháp bàn đến. Vậy tâm là gì? Tâm đã được các nhà triết học
và tâm lý học giải thích bằng nhiều cách khác nhau. Theo Vi Diệu Pháp, tâm
là năng lực để tư duy, để hiểu biết. Năng lực của tâm không thể đem so
sánh với những gì chúng ta biết. Tuy nhiên, một cách tương đối, chúng ta
có thể so sánh với năng lực khổng lồ cố hữu trong điện năng, hoặc có thể
so sánh với năng lực nguyên tử. Ngay đến những năng lực điện và nguyên tử
còn bị con người sử dụng vào mục đích tốt - xấu khác nhau huống nữa là tâm
của chúng ta. Năng lực nguyên tử hiện nay được sử dụng để huỷ diệt con
người, nhưng nó cũng có thể được dùng để làm giảm đau cho con người.
Tâm được bảo là giống như nước thanh tịnh
và trong suốt, có thể bị pha lẫn với bất cứ thứ gì. Khi nó bị pha lẫn với
bùn nó trở nên cấu bẩn và đục ngầu, khiến chúng ta không thể nhìn xuyên
qua được. Cũng vậy, năng lực tối thượng, vô song của tâm này, bản chất của
nó là trong sáng, rõ ràng, thấu suốt; thế nhưng nếu dùng sai hay lạm dụng
sẽ trở nên nhơ bẩn, cấu uế và độc hại. Lấy một năng lượng khác mà mọi
người chúng ta đều biết, đó là hơi nước. Hơi nước có thể được dùng để kéo
hay lôi những khối lượng khổng lồ dưới sự kiểm soát thích đáng và sử dụng
một cách thông minh. Thế nhưng nếu năng lực này bị lạm dụng hay
không kiểm soát, hậu quả sẽ thật là tai hại. Một chiếc tàu chạy bằng hơi
nước chở theo một số lượng hành khách lớn, nếu năng lượng hơi nước không
được kiểm soát và sử dụng khéo léo thì sinh mạng và tài sản của hành khách
có thể bị tiêu hoại. Trong khi đó việc lạm dụng tâm có thể tiêu huỷ gấp
trăm lần so với các năng lượng vật chất khác. Tuy nhiên, cũng cái tâm ấy,
khi được tu tập và phát triển theo những mục đích tốt, có thể đem lại
những điều kỳ diệu. Chẳng hạn, hãy nhìn xem tâm của Ðức Phật, người mà
bằng những năng lực phi thường của cái tâm khéo tu tập của mình, đã có thể
ảnh hưởng đến hàng triệu nguời trên thế gian này và đưa họ đến ánh sáng và
sự hiểu biết, đến hỷ lạc và hạnh phúc. Tâm thanh tịnh bị tham, sân, si làm
ô nhiễm. Có những người trong cuộc sống này đã đạt đến những vị trí nổi
bật trong xã hội, cũng vì tâm họ vẩn đục nên không những họ đã tự hại bản
thân mình mà còn ảnh hưởng tới số đông người khác nữa. Họ đã dùng cái tâm
đầy năng lực của mình theo chiều hướng sai lầm, điều đó chẳng khác nào đặt
khẩu súng trong tay một con khỉ.
Ở đây, trong khuôn khổ bài giảng này, bần
tăng chỉ có thể giới thiệu một phương diện của tâm, trình bày cho quý vị
thấy là tâm này rất dễ bị ô nhiễm như thế nào. Ðó là bàn về phương diện
tác động qua mắt. Khi chúng ta thấy một đối tượng, chúng ta không thấy bản
chất thực hay thực chất nội tại của nó, mà chúng ta chỉ thấy cái tướng bên
ngoài của đối tượng thôi. Ảnh của một vật chỉ được tạo thành nếu chúng ta
đưa mắt nhìn vào đúng hướng để cho những quang sóng mà vật đó phản chiếu
ra, đi vào mắt chúng ta. Mặc dù, những quang sóng này liên tục đập vào
phía ngoài giác quan của chúng ta, ở đây là mắt, thế nhưng nếu mí mắt khép
chặt, chúng cũng chẳng tạo ra những ấn tượng giác quan nào cả. Như vậy, rõ
ràng là không có một linh hồn nào từ bên trong chúng ta chui ra ngoài để
nắm bắt hay nắm lấy đối tượng. Tuy nhiên theo tự nhiên, các hiện tượng tìm
cách len lỏi vào tâm chúng ta qua các căn môn.
Tất cả mọi tư duy hay ý niệm của chúng ta
đều dựa căn bản trên những ấn tượng giác quan đó, vì vậy, nó chỉ có tính
cách gián tiếp và là phó bản của cái thực và chắc chắn không sao tránh
khỏi những thiên kiến cá nhân. Do đó trên thực tế chúng ta không có được
cái tri kiến trực tiếp về những gì thực sự hiện hữu trong thế giới vật lý
này cả; dẫu sao thì những đối tượng trong thế giới vật lý bên ngoài cũng
là thực, nhưng không thực như cái mà người quan sát thấy nó. Các đối tượng
trong thế giới vật lý bên ngoài này hiện hữu độc lập với sự nhận thức của
chúng ta.
Theo triết học Phật giáo (Vi Diệu Pháp)
thì những đối tượng này bao gồm bốn yếu tố hay Tứ Ðại (Ðất, Nước,
Lửa, Gió). Vì thế cho nên, cái chúng ta thấy chỉ là tướng bên ngoài,
tức ảnh của đối tượng xuất hiện nơi võng mạc của chúng ta. Chúng ta nghĩ
rằng cái chúng ta thấy là thực, nhưng thực ra đó chỉ là sự tưởng tượng cá
nhân của chúng ta về cái tướng đó. Vì vậy, tri kiến hiểu biết của chúng ta
về những gì mình thấy đều là phóng tác của cái tướng bên ngoài, từ đó
chúng ta lầm lẫn cái tướng cho là đối tượng, cái bóng cho là thực. Vô minh
hay si mê không biết được thực chất này dẫn chúng ta đến ảo tưởng, trong
đó trí tưởng tượng đóng một vai trò rất lớn, làm phát sinh tham ái đối với
cái không thực hiện hữu.
Ðiều này nhắc bần tăng nhớ đến câu chuyện
ngắn như vầy: Xưa có một con Chồn đang đi tìm mồi để ăn, Chồn ta dừng chân
dưới một gốc cây phủ đầy những bông hoa màu đỏ. Nó ngước lên nhìn và chờ
đợi cho tới khi một chùm hoa rụng xuống. Lúc đó, nó chạy ùa tới và nghĩ
đến một bữa ăn hấp dẫn, vì nó đinh ninh rằng cái mà nó thấy trên cây là
một món thịt đỏ tươi nào đó. Chồn ta ngửi chùm hoa, thất vọng khi khám phá
ra đó không phải là thứ nó mong đợi. Nhưng vẫn không mất hy vọng, nó tự
nhủ: "Không phải cái này mà là
những cái khác còn đang ở trên cây cao kia".
Thế là nó lại chờ đợi, một vài chùm hoa nữa rụng xuống, và mỗi lần như vậy
Chồn ta đều gặp lại kinh nghiệm cũ. Cứ như vậy, nó lại ở suốt ngày trời,
đói lả cả người, nghĩ rằng món thịt thật vẫn còn trên ngọn cây. Chúng ta, những kẻ phàm phu nghĩ rằng các
pháp hiện hữu trong khi nó không thực sự như vậy. Chúng ta thường trông
đợi một điều gì đó mới mẻ và đôi lúc còn mơ mộng tới những thứ không thực
co. Chúng ta chỉ nhìn thấy tướng mà không thấu triệt những giá trị nội tại
của nó. Bây giờ, chúng ta nói đến vấn đề "Tôi" có hiện hữu hoặc
"Anh" có hiện hữu hay không? Ðây là một vấn đề rất thường gặp. Vấn đề
này không những được người ta đặt ra vào thời Ðức Phật, mà trước khi Ngài
xuất hiện cũng vậy. Ðức Phật được hỏi về vấn đề này và Ngài đã trả lời đi
trả lời lại rất nhiều lần, nhưng người ta vẫn không cảm thấy thoả mãn.
Hôm nay, chúng ta cũng đang đặt lại cùng
vấn đề đó: Theo triết học Phật giáo "Tôi" là thực, "Anh" là
thực, chúng hiện hữu nhưng không phải hiện hữu theo cách mà chúng ta thấy
nó. Cái chúng ta thấy chỉ là ảo ảnh, bởi vì cái chúng ta thấy, hay cái
chúng ta nghĩ là mình thấy đó là không thực. Nó chỉ là cái tướng bên
ngoài, một bóng ma mà tâm chúng ta đã phóng hoạ ra từ nơi cái tướng hay
hình ảnh đó mà thôi. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng có hai cái "Tôi"
và hai cái "Anh". Một cái "Tôi" hiện hữu và sống thực
trong cuộc đời này, và cái "Tôi" khác chỉ hiện hữu trong thế giới
của các giác quan, và do vậy không phải là thực. Cái "Tôi" trước
hiện hữu trong ý nghĩa thực sự của nó, nghĩa là trong cái giá trị nội tại
của nó, và điều này chỉ có thể được thấu triệt bằng một cái tâm khéo tu
tập, không bị che mờ bởi ảo tưởng của sự hiện hữu có tính hiện tượng
(Phenominal existence). Theo Vi Diệu Pháp cái "Tôi" này bao
gồm năm uẩn. Sự kết hợp của năm uẩn này trong những mức độ khác nhau tạo
thành cái tướng bên ngoài, và đối với các tướng này chúng ta gán cho những
cái tên khác nhau. Chỉ có chánh tri kiến mới giúp chúng ta phân biệt được
đâu là bản chất cùng tột của các pháp với cái tướng hời hợt bề ngoài, phân
biệt được cái thực với cái không thực và chân lý với sự tưởng tượng. Ðối tượng xuất hiện đối với cái nhìn của
một phàm phu bình thường, chắc chắn chỉ được thấy trong ánh sáng của tri
kiến hạn hẹp cá nhân người đó, họ không nhận ra các uẩn đã tạo ra cái thấy
mà đối tượng đó biểu hiện. Thế rồi, họ gán vào đó những tính chất hoặc là
hấp dẫn hoặc là ghê tởm, đáng ưa hay không đáng ưa v.v... Họ thường quy
những tính chất đó cho mọi người, tuy nhiên thực chất mà nói, những phẩm
chất mà họ gán cho đó đều phát xuất từ trí tưởng tượng cá nhân của họ mà
thôi, bởi vì họ chỉ thấy cái ảnh của người liên hệ. Từ chỗ đó họ phạm phải
sai lầm vì đã không vượt qua được cái tướng bề ngoài. Liên quan đến vấn đề này, một nhà chú giải
đưa ra hình ảnh ẩn dụ sau. Ông nói rằng người không có trí tuệ nội quán
đối với thực tại cùng tột của các pháp, họ hành xử chẳng khác nào con chó
trong câu chuyện này vậy: "Có một
chú chó tình cờ vớ được cục xương khô. Do đói bụng nó bắt đầu liếm láp và
cố sức nhai cục xương ấy. Trong quá trình tiết ra nước bọt của nó khiến
cho cục xương thấm ướt, và chẳng bao lâu nó nhai được cục xương ấy với cái
ảo giác rất thú vị cho đó là một món thịt béo bở ngon lành".
Một người bình thường trong thế gian này
cũng giống như con chó trong câu chuyện. Họ nghĩ rằng mình đang hạnh phúc
trong khi thực sự họ lại không có. Họ nghĩ vật gì là cụ thể do vậy nó phải
thường hằng, trong khi trên thực tế ngay chính bản chất của nó, vấn đề lại
ngược hẳn. Họ tưởng ra những thứ không thực hiện hữu rồi sanh ra sầu muộn,
lo âu và đau khổ.
Chúng ta đề cập đến những tính chất hấp
dẫn và không hấp dẫn. Như vậy, thử hỏi những tính chất này có hiện hữu hay
không? Theo triết học Phật giáo không có gì xác định trong vấn đề này cả,
bởi vì cái phù hợp hay đáng ưa với người này có thể lại không phù hợp hay
đáng ưa với người khác.
Những tính chất thường được nghĩ là tốt
hay xấu hoàn toàn tuỳ thuộc vào người tưởng tượng. Chẳng hạn một xác chết
đối với chúng ta xem ra khó ngửi và đáng ghê tởm, nhưng đối với một chú
Kên Kên (loài chim ăn xác chết)
thì cái thây ma đó lại là món ăn
khoái khẩu ngon lành. Từ đó suy ra, cái hấp dẫn với người này có thể lại
ghê tởm với người khác. Cái đáng yêu dưới mắt người này có thể lại xấu xí
dưới mắt người khác. Vì vậy, các tính chất tốt - xấu, hay - dở v.v... hoàn
toàn tuỳ thuộc vào thị hiếu và quan niệm riêng của mỗi người. Nhằm minh hoạ cho sự việc này, Bần Tăng sẽ
thuật lại một câu chuyện để cho quý vị thấy cái hấp dẫn với người này
nhưng có thể không hấp dẫn với người khác. Chuyện kể rằng: "Ngày xưa có
một con Thiên Nga lộng lẫy với bộ lông vàng, sống trong rặng Hy Mã Lạp
Sơn, vây quanh nó là những kỳ hoa dị thảo và những suối nước trong như pha
lê, thức ăn của nó là các loại trái cây chín mọng thơm ngon. Một hôm, nó
bay ra ngoài để xem thử sinh hoạt dưới đồng bằng ra sao. Con Thiên Nga vô
cùng kinh ngạc khi thấy rằng hoàn cảnh đã thay đổi, nước đục như bùn và
cảnh vật thật là xấu xí. Lúc đó, nó phát hiện được một chú Sếu đang hăng
say lùng sục thứ gì đó trong cái hồ nước đục ngầu. Con Thiên Nga lông vàng
lấy làm thương hại chú Sếu, khi nó thấy hoàn cảnh khốn cùng của người bạn
mình như vậy, nó liền bay xuống. Ðến gần con Sếu, nó cất tiếng hỏi đầy
thương cảm:
"Này người anh em bất hạnh của tôi kia!
tôi rất làm tiếc khi thấy bạn sống trong điều kiện thảm hại quá đỗi như
vầy, trông bạn có vẻ gầy gò và khổ sở quá. Nào, hãy nói cho tôi biết là
bạn đang làm gì đó?". Con Sếu trả lời:
"Tôi đang đi kiếm thức ăn bạn ạ".
"Thế bạn ăn thứ gì?"
Thiên Nga hỏi thăm, tỏ vẻ rất quan tâm.
Sếu ta trả lời rằng nó sống bằng cách bắt
Cá trong hồ để ăn; điều này khiến cho Thiên Nga cảm thấy rất buồn, nó nói: "Cá ư! Nó đâu phải là loại thức ăn ngon
lành gì, mùi của nó tanh lắm, vả lại bạn sống như vậy là giết hại chúng
sanh khác rồi. Hãy đi với tôi đến dãy Hy Mã Lạp Sơn, ở đó bạn có thể có
rất nhiều trái cây ngon ngọt, những bông hoa xinh đẹp và nước tinh khiết".
Con Thiên Nga còn đưa ra những hình ảnh rất xinh đẹp và điều kiện sống lý
tưởng ở đó.
"Vâng, thưa anh bạn Thiên Nga",
con vật ở vùng đất thấp lên tiếng
"lời giải thích của anh rất hấp dẫn và quả thực là rất đẹp; thế nhưng xin
anh hãy nói cho tôi biết xem là ở đó có nước bùn để tôi có thể bắt được cá
không đã?". Cuối cùng con Thiên Nga đành phải từ bỏ
những cố gắng của mình, dẫu sao thì điều này cũng đáng khen ngợi.
Tính chất hấp dẫn và ghê tởm, đáng ưa và
không đáng ưa hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự ước lệ, thói quen và khuynh
hướng. Tất cả chúng ta có thể đồng ý cho rằng một điều nào đó là tốt đẹp,
nhưng khả năng thưởng thức lại thay đổi tuỳ mỗi cá nhân. Không có gì xác
định đâu là cái đẹp trong ý nghĩa đích thực cả. Bần tăng nhớ có một lần ở
phòng triển lãm quốc gia tại Luân Ðôn, ở đó Bần Tăng gặp một nhóm người
đang tranh luận với nhau về việc bức tranh nào là đẹp hơn cả. Người thì
nói bức này, người thì nói bức kia, và chẳng ai đồng ý với ai cả. Như vậy,
chứng tỏ là không có một tiêu chuẩn rõ rệt nào về cái gì là đẹp, cái gì là
không, cái gì là hấp dẫn, cái gì không hấp dẫn, cái gì đáng ưa, cái gì
không đang ưa. Bao lâu tri kiến của chúng ta còn dựa căn bản trên những
cảm giác, sự tưởng tượng, hình dáng bề ngoài v.v... chừng đó chúng ta
không thể hy vọng đạt đến sự thực (chân lý), đạt đến bản thể tối
hậu của các pháp.
Vì thế cho nên, có những bất đồng về tri
kiến, mâu thuẫn về sự phân đoán giữa con người trong thế gian này. Quan
niệm về lý tưởng của người này khác với người kia; quan niệm về bất cứ
lãnh vực nào cũng vậy, không nhất thiết phải phù hợp với người khác. Chúng
ta nói về hoà bình, nhưng làm thế nào để chúng ta có thể đạt đến hoà bình,
một nền hoà bình thực sự, trong khi người ta không có cái tri kiến rõ ràng
về điều này. Tri kiến của chúng ta bị che phủ bởi đám
mây mù vô minh, ích kỷ và thù hận. Chúng ta đang sống trong thế giới của
ảo tưởng hơn là sự thực. Chắc chắn không thể nào đạt đến hoà bình thực sự
đời này hay đời sau nếu chúng ta không tự mình buông bỏ tham lam, thù hận
và tà kiến. Do vậy, công việc của chúng ta - những người học Phật, là cần
phải giữ cho tâm thanh tịnh, trong lành và sáng suốt, sao cho tâm mình trở
thành những khí cụ mãnh mẽ để phục vụ cho nhân loại nói chung. Có như thế
chúng ta mới thực sự là những người kiến tạo hoà bình và xây dựng một thế
giới hoà hợp được. Ðể thành tựu mục tiêu này, chúng ta phải tu dưỡng tâm
tánh sao cho trở nên cao thượng bằng tu tập tâm, bằng sự phục vụ, lòng vị
tha và trí hiểu biết. -ooOoo-
Ðầu trang |
Mục lục |
01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 | Chân thành cám ơn Tỳ kheo Pháp
Thông đã gửi tặng bản vi tính (Bình Anson, 08-2002) Xem:
Nguyên tác Anh ngữ [Trở
về trang Thư Mục]
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times
font
Đại
Trưởng Lão U
Thittila
Tỳ kheo Pháp
Thông dịch
Venerable Sayadaw Ashin U Thittila
(ABHIDHAMMA)
21 |
22 |
23 |
24 |
25 | 26 |
27 |
28 |
29 |
30 |
31 |
32 |
33 |
34 |
35 |
36 |
37
updated: 16-08-2002